Cẩm nang du lịch

Cẩm nang du lịch nghỉ dưỡng: Các điểm tham quan tại Nghệ An

Khu du lịch Cửa Lò

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Khu du lịch Cửa Lò.

2. Địa chỉ.

– Thị xã Cửa Lò- tp Vinh- NA.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

Bãi biển Cửa Lò là một trong những bãi biển đẹp ở Bắc Trung Bộ Việt Nam. Bãi biển này thuộc thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh 18 km về phía Đông Bắc, cách thủ đô Hà Nội hơn 300 km, và cách Thành phố Hồ Chí Minh 1400 km. Cửa Lò cũng được nối với Lào và Bắc Thái Lan bởi Quốc lộ 8 và cách Viêng Chăn thủ đô của Lào 468 km.

Đến Cửa Lò bằng các phương tiện như ô tô, tàu thuỷ, tàu hoả, kể cả máy bay đều rất thuận lợi. Du khách có thể đi từ Vinh theo quốc lộ 46, hoặc đường Vinh – Cửa Hội. Nếu đi theo hướng từ Hà Nội vào, qua cầu Cấm rẽ trái và đi tiếp khoảng 8km nữa là đến khu du lịch Cửa Lò.

Khu du lịch Cửa Lò với bãi biển Cửa Lò nổi tiếng nằm bên bờ biển Đông, được ôm gọn giữa hai cửa biển: Cửa Lò phía bắc, Cửa Hội phía nam. Nơi đây có hai con sông đổ ra biển:đó là sông Cấm ở phía Bắc và sông Lam ở phía Nam.

Bãi tắm Cửa Lò dài trên 10km, có độ dốc thoai thoải, cát trắng phẳng mịn, nước trong và sạch, không pha lẫn bùn như một số bãi biển khác. Phía trên bãi biển còn có nhiều khu lâm viên rộng với những rặng phi lao, rặng dừa xanh tốt. Nước biển ở đây có độ mặn rất cao. Vì thế, Cửa Lò là một trong những bãi tắm lý tưởng ở Việt Nam.

Đảo Lan Châu nằm ngay sát biển Cửa Lò, chia bãi tắm Cửa Lò thành hai khu vực riêng biệt. Những lúc triều dâng, toàn đảo dầm chân trong nước biển. Dưới chân núi, về phía đông nam có nhiều tảng đá lớn, hình thù kỳ lạ với nhiều tên gọi khác nhau. Trên đảo, năm 1936, vua Bảo Đại đã cho xây lâu đài để nghỉ dưỡng. Từ đây, du khách có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh thị xã Cửa Lò và được phóng tầm mắt nhìn ngắm biển khơi bao la. Tại đây có loài cúc biển đẹp lạ kỳ do chính vua Bảo Đại đem giống cây từ Pháp về.

Cách bờ biển 4km là đảo Song Ngư như hai con cá khổng lồ che chắn bão to, gió lớn cho bãi biển Cửa Lò, Cửa Hội, đây là nơi sinh sống của các hệ động thực vật rất phong phú như: khỉ, dê hoang dã, chim v.v…Xa xa, ngoài khơi chừng 20km là núi Quỳnh Nhai. Núi cao 218m, sâu 24m so với mặt biển. Quỳnh Nhai gồm Hòn Lớn và Hòn Con.

Bãi biển Cửa Lò trong chiều dài lịch sử tự nhiên vốn là một bãi biển dài, đẹp với dải cát trắng và ánh nắng vàng. Đó cũng là nơi cư trú của các làng chài và nơi tắm biển, nghỉ ngơi, dạo chơi của cộng đồng dân cư quần tụ còn thưa thớt cho đến cuối thế kỷ XIX. Tuy nhiên cho đến lúc đó, Cửa Lò vẫn chưa phải là nơi nghỉ mát, tắm biển thực sự quan trọng của các dân cư đất Việt nói chung. Bởi lẽ đó chưa phải là nhu cầu bức thiết của cộng đồng cư dân sinh sống trên địa bàn và dọc mảnh đất Miền trung này. Đến cuối thế kỷ thứ XIX, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp ở Việt Nam đã tác động mạnh mẽ đến Nghệ An. Vinh trở thành một trung tâm công nghiệp, nơi tập trung đông đảo công nhân và cả bộ máy hành chính với đội ngũ viên chức người Pháp, người Việt. Sự thay đổi xã hội đó và những vị thế về cảnh quan thiên nhiên là lý do chủ yếu để người Pháp chọn Cửa Lò làm nơi xây dựng một khu biệt thự nghỉ mát dành riêng cho người Pháp( khu biệt thự này đã bị phá hủy trong chiến tranh).Cùng với việc công nghiệp hóa Thành phố Vinh – Bến Thủy, người Pháp cho xây dựng hệ thống giao thông hoàn chỉnh: Đường Vinh đi Cửa Hội, Cửa Lò và các điểm nghỉ dưỡng với cách bố trí đảm bảo an toàn và ý nghĩa danh thắng. Bên cạnh các khu du lịch lần lượt ra đời trong thời gian đó: SaPa (1903), Mẫu Đơn (1906), Tam Đảo (1904), Ba Vì (1906), Sầm Sơn (1907), Bạch Mã (1906), Bà Nà (1904)…Ngày 05/06/1907 đã lấy làm ngày ra đời của du lịch Cửa Lò. Điều này khẳng định các giá trị vốn có và lâu đời của du lịch Cửa Lò để có các giải pháp khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng Cửa Lò thành đô thị du lịch thật sự theo đúng tiêu chuẩn.

Thị xã Cửa Lò ra đời năm 1994.Trải qua hơn 100 năm với những thăng trầm của lịch sử, chỉ chừng 20 năm qua Cửa Lò mới thực sự được đánh thức và đang dần khẳng định vị thế của mình trên lộ trình phát triển của đất nước nói chung và của tỉnh Nghệ An nói riêng. Cửa Lò ngày nay đang ngày càng được thay da đổi thịt bởi sự phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng, đặc biệt là các dịch vụ du lịch, hệ thống khách sạn cao tầng hiện đại và nhiều khu vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng. Với cơ sở vật chất hạ tầng hiện có 212 nhà nghỉ, khách sạn, gần 6000 phòng nghỉ đủ phục vụ cho trên 1.3 vạn khách nghỉ qua đêm. Nhờ thế năm 2007, Cửa Lò đã đón trên 1.3 triệu lượt khách trong đó có 811 ngàn khách lưu trú. Năm 2008 đạt 1,4 triệu lượt người. Tỷ trọng kinh tế du lịch chiếm 64.3%.

Nguồn hải sản ở đây rất phong phú, khoảng trên 200 loại cá, nhiều loại đặc sản như: tôm, mực, cua, rắn biển, cá mú… Đến với Cửa Lò, du khách không thể bỏ qua việc thưởng thức các món ẩm thực mang hương sắc vùng biển Miền Trung này. Đó là các món:nước mắm hạ thổ, mọc cua bể, các món mực, cá giò 7 món, ghẹ hấp me, cháo nghêu, cháo lươn…Các món ăn đặc sản này du khách đều  có  thể  thưởng  thức ngay tại các nhà hàng và dân dã hơn nữa là ngay tại bãi biển. Lý thú nhất là món ăn mực nhảy (một loại mực ống, nhỏ như ngón tay, khi vớt lên bờ vì còn tươi nên trên lưng có những đốm nháy sáng màu tím), chưa có bãi biển du lịch nào có món ăn này, chỉ cách bờ khoảng 50 đến 100 m, du khách đi thuyền nan (có người điều khiển) sẽ được câu mực và nướng mực (hoặc hấp) ăn ngay sau vừa mới được câu lên. Nếu bạn là người yếu bóng vía, không ra khơi được với ngư dân thì chỉ việc ngồi trên bãi biển và đợi, thi thoảng sẽ có một chiếc thúng vào và bạn có thể đến xem mua những giã mực sim, hoặc tôm cá còn tươi rói, nhảy búng lách tách. Sau đó đưa vào những hàng quán hiếu khách và hấp lên là đã có thể đánh chén một bữa hải sản đáng nhớ.

Hàng năm, cứ đến ngày 1 tháng 5, ngày Quốc tế Lao động cũng là ngày mở lễ hội Sông nước Cửa Lò để khai trương mùa du lịch biển. Lễ hội có nhiều hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc như các trò chơi truyền thống, thi bơi thuyền rất sôi động và tiết mục bắn pháo hoa. Mùa du lịch kết thúc vào cuối tháng 9.

            Từ thị xã Cửa Lò, du khách cũng có thể tham gia vào một trong các tour du lịch hấp dẫn khác ở trong và ngoài thị xã như: Kim Liên (Nam Đàn), Quảng trường Hồ Chí Minh (Thành phố Vinh), rừng nguyên sinh Pù Mát (Con Cuông), Lạc Xao (Lào) và Thái Lan. Với những giá trị vốn có và cảnh đẹp do thiên nhiên ban tặng, Cửa Lò có thể phát triển nhiều loại hình du lịch với sắc thái ý nghĩa riêng.Du lịch sinh thái: Quý khách có thể đến thăm Đảo Ngư, Đảo Mắt, khu du lịch sinh thái Cửa Hội, Hang Bua, nước khoáng Kim Sơn. Lộ trình du lịch này đã được xây dựng lộ trình, quý khách có thể đến thăm các điểm du lịch đem lại cho du khách sự thoải mái khi hòa mình vào cảnh quan thiên nhiên Cửa Lò.

Du lịch tâm linh: Du khách có thể đến thăm chùa Song Ngư, chùa Lô Sơn, đền Vạn Lộc, đền Thu Lũng, các khu di tích, khu lưu niệm. Qua đó du khách sẽ cảm nhận được các giá trị văn hóa của Cửa Lò được vun đắp qua hàng trăm năm qua.Ngoài ra, các loại hình như: Du lịch thể thao, du lịch du thuyền, du lịch làng nghề sẽ giúp du khách hiểu thêm về đất và người Cửa Lò

Với hơn 100 năm hình thành và phát triển Cửa Lò đang trở thành điểm du lịch thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước. Đây cũng là ngành quan trọng vào thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của Cửa Lò nói riêng và tỉnh Nghệ An nói chung.

4. Lễ hội.

Là lễ hội cấp tỉnh được tổ chức vào dịp 30/4, 1/5 hàng năm. Đây không đơn thuần chỉ là lễ cầu yên mà còn kết hợp khai trương mùa hè du lịch của thị xã biển.

Bãi Chùa – Đảo Ngư

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Bãi Chùa – Đảo Ngư.

2. Địa chỉ.

– Thị xã Cửa Lò, tp Vinh, NA.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Phan Huy Chú viết trong sách “ Lịch triều hiến chương loại chí”: Núi Song Ngạn ở cửa bể Hội Thống…giống như hình hai con cá, tục gọi là núi Song Ngư, người địa phương đơn giản gọi nó là Đảo Ngư hay Hòn Ngư.

– Ðảo Song Ngư, trong con mắt của người xưa, còn tôn thế phong thủy một vùng địa linh nhân kiệt: “Hồng Lĩnh núi cao. Song Ngư biển rộng. Gặp thời vận sáng. Ðua nở nhân tài”. Vua Lê Thánh Tông những dịp đi tuần thú phương nam, thường dừng thuyền nghỉ ngơi ngoạn cảnh đảo, trời, mây, nước, và cao hứng đề thơ :

Biển rộng khí yên hơi ngớt lặng

Âu nằm bãi vắng giăng đang say.

Ba tòa u nhã đều thiêng lạ

Ðảo cá lô nhô biếc phủ dài.

– Đảo nằm ngoài biển, cách bờ hơn 4 km. Đảo gồm hai hòn lớn nhỏ. Hòn lớn cao 133m, hòn nhỏ cao 88m so với mặt nước biển.Diện tích vẻn vẹn 2,5km2. Tại đảo cũng có cả một trạm khí tượng thủy văn đặt trên điểm cao nhất của đảo.Ở đảo rất nhiều loại động vật hoang dã như chồn, kỳ đà, dê , khỉ… đa số là do Chi cục kiểm lâm Nghệ An thả tại đây. Những động vật này là những động vật hoang dã do Chi cục bắt giữ của những kẻ buôn lậu qua biên giới.Do theo quy đinh của đảo, các ngư dân không được đánh bắt quanh đảo 1 hải lý, do vậy quanh đảo rất nhiều loại hải sản quý, đặc biệt là loại “đặc sản” ốc rồng.

– Tục ngữ nói: cảnh có núi sông nhiều thú lạ. Đây không chỉ có núi sông mà còn có biển biếc. chính có Song Ngư án ngự ở phía ngoài, nó làm cho bãi biển Cửa Lò thêm nên thơ, mỹ lệ. Màu xanh bốn mùa của nước biển sải dài ra tít tận xa thì gặp màu mây pha sắc hung hung đỏ của vách đảo lúc trời sáng trong. Vào những chiều bảng lảng, bến vắng, con người dù trong lòng còn nặng thì khi nhìn ra đấy cũng bớt phần xót xa. Đảo che chở cho những chiếc thuyền đánh cá nhỏ nhoi.

– Bãi chùa nằm ở phía tây Đảo Ngư­, đây là một khu đất rộng chừng 3ha có hình rẻ quạt hướng về phía mặt trời lặn. Ngôi chùa cổ được xây dựng ở thế kỷ thứ XIII dưới thời Trần, còn ngôi chùa ngày nay là ngôi chùa phỏng cổ được dựng trên nền đất cũ.  Chùa Đảo Ngư gồm 2 khu vực chính là Chùa và Vườn chùa.Chùa xây lối chữ “đinh”, gồm hạ điện và thượng điện. Hạ điện có 3 gian được lợp ngói âm dương, thờ thần Sát hải đại vương Hoàng Tá Thốn; thượng điện cũng gồm 3 gian được lợp ngói âm dương thờ chư Phật ; Các xà hạ khắc chạm các vật Tứ linh ( Long, Ly, Quy, Phượng) rất đẹp và rất linh thiêng; Công chúa Huyền Trân được tướng Trần Khát Chân cứu đưa về Thăng Long, từng lên đảo, vào chùa thắp hương niệm Phật.Vườn chùa có nhiều cây xanh mọc tự nhiên như­ : Đại, Mưng, Dưới ( trong Vườn chùa hiện có 02 cây Dưới cổ thụ ) và 01 giếng cái giếng gọi là Giếng Ngọc vì là nơi duy nhất trên đảo có nước ngọt, giếng không sâu nhưng nước rất trong, ngọt và không bao giờ cạn. Nước giếng tinh khiết dùng để cất thứ rượu nếp ngon lạ lùng nổi tiếng xứ Nghệ, gọi “Song ngư tửu”. Sân chùa có 2 cây Lộc Vừng khoảng 700 năm tuổi. Phía sau chùa còn có một bãi toàn đá cuội gọi là bãi tắm Tiên.

– Năm 2004, chùa Đảo Ngư đã được trùng tu lại, đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh của nhân dân địa phương và du khách gần xa. Cùng với việc trùng tu chùa, bến cảng ở đảo Song Ngư và ở đảo Lan Châu cũng đã được xây dựng, thuận tiện cho du khách hành hương và vãng cảnh chùa.

Đền Nậm Sơn

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Đền Nậm Sơn hay còn gọi là đền Đức Ông.

2. Địa chỉ.

– Xóm Bắc Sơn, xã Vân Diên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Là một công trình kiến trúc văn hoá tâm linh tưởng niệm Nậm Sơn đại tướng. Đền nằm ngay trên vị trí đồn Nậm Sơn, một đồn trong hệ thống đồn lũy của Mai Thúc Loan.

– Kiến trúc đền gồm có 2 toà: bái đường và hậu cung, được bố trí theo kiểu chữ “Đinh”, kết cấu theo kiểu “kẻ chuyền giá chiêng”, kiểu “tiền trụ”. Nhà hậu cung là nơi thờ Nậm Sơn Đại tướng, còn nhà bái đường là nơi thờ cộng đồng, các lính của ông và cũng là nơi chuẩn bị hành lễ.

4. Lễ hội.

– Hàng năm vào ngày rằm tháng giêng tại đền tổ chức các lễ tế thần, rước kiệu, múa sư tử, múa lân, hát hội và tổ chức tế thần vào ngày giỗ ngài 1/3 và 10/10 (âm lịch). Ngoài ra, các ngày sóc, vọng, nhân dân và khách thập phương về dự lễ rất đông. Những hoạt động đó đã góp phần lưu giữ bản sắc của một vùng văn hoá dân gian xứ Nghệ. 

5.Xếp hạng di tích, danh thắng.

– Đền đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia năm 1997 theo quyết định số 423/QĐ-VH ngày 20/02/1997.

Lăng mộ Nguyễn Thiếp-La Sơn Phu Tử

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Lăng mộ Nguyễn Thiếp.

2. Địa chỉ.

– Dưới chân dãy Thiên Nhẫn, thuộc xã Nam Kim, huyện Nam Đàn,NA.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

Nguyễn Thiếp (l723-1804) có tên hiệu La Sơn phu tử. Ông là bậc thầy hiền sĩ thức thời, danh tiết thanh cao, biết người biết mình, không màng danh lợi. Ông sinh ngày 25 tháng 8 năm Quý Mão (1723) ở làng Mật Thôn, xã Nguyệt Úc, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông còn có nhiều tên hiệu, tên tự khác như La Giang phu tử, Lam Hồng Dị Nhân, Khải Xuyên, Khải Chuyên, Nguyệt Úc, Lạp Phong cư sĩ, Hạnh Am, Hầu Lục niên, Lục niên Tiên sinh, Điên ẩn, Cuồng ẩn. Ông được nuôi dưỡng trong một gia đình văn hóa uyên thâm. Bên nội thuộc dòng dõi của Bảng nhãn Nguyễn Bật Lạng triều Lê Thần Tông. Bên ngoại là họ Nguyễn “Trường Lưu”, một dòng họ khoa bảng nổi tiếng “văn phái Hồng Sơn”. Nguyễn Thiếp nổi tiếng thiên tư sáng suốt, học rộng, hiểu sâu. Năm 20 tuổi, ông thi hương đậu giải nguyên. Năm 26 tuổi, ông thi hội đậu tam trường. Năm 30 tuổi, ông nhậm chức huấn đạo ở phủ Anh Sơn. Năm 40 tuổi, ông làm tri huyện Thanh Chương. Năm 46 tuổi, ông từ quan, về dựng nhà sống ẩn trên núi Thiên Nhẫn (Lục niên thành). Thời ấy, thế cuộc rối ren, vua Lê suy nhược, chúa Trịnh lộng quyền, Trịnh Giang giết vua, loạn thần chuyên chính, Lê Duy Mật dấy loạn, lời trung khó dùng, can gián mang họa. Nguyễn Thiếp thức thời, chán cảnh quan trường, không màng danh lợi nên đã từ quan về sống ẩn, đi chơi nay đây mai đó, xem xét địa thế.

Nguyễn Thiếp là nhà văn hoá lớn tiêu biểu cho sự độc lập văn hóa của Việt Nam. Ông đã tận lực giúp vua Quang Trung hoàn thiện chữ Nôm, biên dịch các sách chữ Hán sang chữ Nôm để phục vụ cho chính sách sử dụng chữ Nôm trong mọi sinh hoạt văn hoá Việt Nam, dùng chữ Nôm trong các văn bản, sắc dụ để thay thế chữ Hán. Ông làm Viện trưởng Viện Sùng chính đã dày công phiên dịch các bộ sách Tứ thư và Ngũ kinh. Ông là một học giả uyên thâm Hán văn và chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa sâu đậm, nhưng đã gìn giữ trọn vẹn văn hoá truyền thống của dân tộc. Tiếc rằng những tác phẩm của La Sơn phu tử đến nay không còn nữa.

Nguyễn Thiếp mất năm 1804, hưởng thọ 81 tuổi. Lăng mộ Nguyễn Thiếp, hiện thuộc xã Nam Kim dưới chân dãy Thiên Nhẫn. Trước mộ ông là hồ nước Nam Kim trong xanh, phẳng lặng. Mộ ông là một trong những điểm đến nổi tiếng của quần thể di tích lịch sử-văn hoá vùng đất Lam Hồng…

Đình Trung Cần và mộ Tống Tất Thắng

1.Tên điểm di tích, danh thắng .

– Lăng mộ Tống Tất Thắng.

2. Địa chỉ.

– Xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, Nghệ An.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Lăng mộ Tống Tất Thắng là di tích lịch sử .

– Tống Tất Thắng sinh năm 1487. Ông đậu tiến sĩ (1505) khi vừa tròn 18 tuổi, là người khai khoa cho vùng đất này dưới thời Lê. Ông làm quan đến chức binh bộ thượng thư. Sau khi đánh giặc thắng trận trên đường trở về, ông lâm bệnh nặng và qua đời khi mới 35 tuổi. Mộ ông được mai táng tại làng Trung Cần và được xây dựng trong một khuôn viên đẹp thể hiện tấm lòng ngưỡng mộ của thế hệ đời sau đối với một danh tướng lương thần đã có công với dân với nước như ông.

4.Xếp hạng di tích, danh thắng.

– Lăng mộ Tống Tất Thắng được xếp hạng di tích lịch sử theo quyết định số 51/QĐ-BT ngày 12/1/1996 của Bộ Văn hóa.

Núi Thiên Nhẫn và Thành Lục Niên

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

Thành Lục Niên.

2. Địa chỉ.

– Thuộc địa phận huyện Nam Đàn và huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Thành Lục Niên được Lê Lợi xây dựng trên lưng chừng Động Chủ thuộc đỉnh núi Hoàng Tâm (còn gọi là dãy Lạp Phong hay tiếng địa phương là rú Động Chủ) thuộc dãy núi Thiên Nhẫn vào cuối năm 1424. Hoàng Giáp Bùi Dương Lịch đã từng có bài vịnh về Thiên Nhẫn để nói về cái thế luỹ vững chắc: Đất giáp ba sông hiểm; Núi như muôn ngựa phi; Chương, Hương chia hai ngã; Lam, Phố hợp ba chi; Hoan, Đức khoe trận hiểm; Trà, Cao giữ biên thuỳ; Bình Ngô từ thuở ấy; Phá giặc dựng cơ ngơi…Thành có hình chữ nhật được xây dựng theo lối ghép đá trên độ cao 178m.

Thành đắp bằng đá núi, đến nay vẫn còn di tích. Trước cửa thành có bờ đá thẳng, dựng đứng xuống, cao chừng vài chục mét, tạo nên thế hiểm trở, có khe nước chảy qua, tạo thành một thác cao gọi là khe Hồ Thành. Chỗ khe nước chảy ra cũng là chỗ cửa thiên tạo tự nhiên của thành Lục Niên.

Lục Niên Thành được xây dựng nhằm mục đích tạo bàn đạp chiến lược để Lê Lợi, Nguyễn Trãi và toàn bộ hệ thống Bộ chỉ huy quân sự nghĩa quân Lam Sơn huy động tướng sĩ bao vây Thành cổ Nghệ An. Từ đây, Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn có thể bao quát và khống chế cả một vùng rộng lớn của lưu vực sông Lam, sông La theo dõi hoạt động của quân Minh trong thành Nghệ An. Địa thế của Lục Niên Thành đứng từ trên đỉnh núi Hoàng Tâm nhìn xuống Thành Nghệ An nơi tướng Trương Phụ của quân Minh đóng theo đường chim bay khoảng 6 km. Do Thành Lục Niên có vị thế cao hơn Thành Nghệ An nên nghĩa quân Lam Sơn đã nhanh chóng giải phóng hoàn toàn vùng đất phía Nam Sông Lam cho đến tận Tân Bình Thuận – Thuận Hoá. Cũng từ vùng đất lịch sử này quân và dân của Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã bao vây chiến hào, tiêu diệt toàn bộ quân Minh ở Thành Diễn Châu. Thừa thắng thẳng tiến ra Bắc thu phục Tây Đô (Thanh Hoá), đưa sự nghiệp chống quân Minh đi đến thắng lợi cuối cùng.

Nơi đây từ cụm Nam Hoa còn mang dấu vết của Trần Trùng Quang mười mấy năm trước đến cụm Sa Nam còn giữ uy nghi của vua Mai gần tám thế kỷ xa xưa, long dân bao giờ cũng nhiệt thành bảo vệ và phục vụ những người phất cờ chiến đấu vì nước. Nơi đây còn có những ruộng lúa, vườn khoai có truông Băng, bàu Nón, cánh đồng Đại Trai và bao nhiêu đất đai khai khẩn từ thời Lý Nhật Quang.

4.Xếp hạng di tích, danh thắng.

– Điểm di tích này đã được xếp hạng di tích lịch sử danh thắng theo quyết định số 313/QĐ-VH ngày 28/04/1964.

Chùa Đức Sơn

1.Tên điểm di tích, danh thắng .

– Chùa Đức Sơn hay còn gọi là Đức Sơn tự, có tên nôm là chùa Nầm.

2. Địa chỉ.

– Xóm Nam Sơn – xã Vân Diên – Nam Đàn.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Theo tư liệu thì Chùa Đức Sơn nằm trên vùng đất cổ thuộc thành Vạn An xưa. Được xây dựng từ thời Trần, ngôi chùa này được coi là một trong những ngôi chùa cổ nhất xứ Nghệ. Đến năm Tự Đức thứ 25, chùa được trùng tu lại và có diện mạo như ngày nay.

– Ngoài các công trình như cổng, lầu hộ pháp, nhà khách, chùa thượng, chùa hạ, nhà tổ sư…có giá trị kiến trúc lịch sử, hiện chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như: bức đại tự, chuông chùa, tượng pháp, bộ sách cổ quý hiếm.

Chuông có kiểu dáng thời Lê, là hồng đại chung- một di vật quý giá của chùa. Bộ tượng pháp ở chùa Đức Sơn phong phú, độc đáo, tiêu biểu cho tượng pháp chùa Việt, vừa mang những nét đặc sắc riêng. Bộ Tam Thế với 3 pho tượng bằng nhau về kích cỡ, giống nhau về kiểu dáng, có chiều cao 1,2m toạ trên đài sen được tạo tác bằng gỗ mít rất công phu, điêu luyện.

Ngoài ra, ở đây còn lưu giữ 210 bản gỗ khắc Kinh dùng để in ấn thành sách truyền bá đạo Phật. Các bản khắc được làm bằng gỗ thị, gỗ mực là loại gỗ mềm, dễ khắc, không nứt nẻ, mục ải. Bản nhỏ nhất rộng 18 cm, dài 50cm, bản lớn nhất có kích thước 30x80cm. Trên bề mặt các bản khắc hình đức Phật, Bồ Tát và kinh bằng chữ Hán. Theo các nhà nghiên cứu thì những bản khắc gỗ này có từ thời Nguyễn trong thời gian vua Tự Đức trị vì.

– Đây là nơi sinh hoạt tâm linh của bà con nhân dân Nam Đàn và các vùng phụ cận. Vào các ngày Khánh đản, các tăng ni, phật tử khắp nơi về nơi cửa chùa cầu kinh, niệm Phật.
4.Xếp hạng di tích, danh thắng.

– Chùa được công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia theo quyết định số 53/2001/BVH ngày 28/12/2001.

Đình Hoành Sơn

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Đình Hoành Sơn.

2. Địa chỉ.

– Xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Hội tụ tài hoa, tâm huyết và ước nguyện của cư dân Nam Đàn cổ xưa, đình Hoành Sơn(thuộc xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) được xây dựng vào tháng Chạp năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 23(tức vào tháng 2-1763) và đến cuối năm sau thì hoàn thành. Tọa lạc trên một khu đất bằng phẳng bên dòng sông Lam thơ mộng, đình được bố cục gồm sân, bái đường và hậu cung với chất liệu chủ yếu là gạch ngói và gỗ lim.

Người khởi xướng và chủ sự xây dựng công trình này là Đặng Thạc- ông đổ cử nhân dưới triều vua Lê Hiển Tông(1740-1786) làm tri phủ huyện Kỳ Sơn(phủ Tương Dương), ông thuộc gia đình dòng dõi thế tộc và có quyền uy rất lớn trong vùng. Khi nghỉ hưu, gặp năm được mùa đời sống nhân dân sung túc, các tầng lớp sĩ, nông, công, thương đều làm ăn phát đạt, ông bèn chọn đất tốt và huy động tiền của trong dân để mua gỗ quý đồng thời chiêu vời các toán thợ giỏi về xây đình cho làng ngay trên vườn nhà mình.

Tương truyền nhiều toán thợ có tiếng đến nhận đề tài rồi bí mật làm vì toán nào làm đẹp nhất thì được thưởng lớn. Toán thợ Nam Hoa Thượng không được mời đến, họ bày mưu cử người thợ giỏi nhất tên Chuẩn giả dạng ăn mày đến chỗ làm đình xin ngủ lại rồi cố tình đốt cháy một vì ở phía Nam của ngôi đình, Đặng Thạc vô cùng tức giận nhưng người ăn mày đã xin được làm lại, chỉ trong một thời gian ngắn một bức chạm đã khiến cả hội đồng kỳ mục phải kinh ngạc và thán phục. Đó cũng là lý do giải thích tại sao các nét chạm trổ và nghệ thuật trang trí ngôi đình lại đa màu sắc đến thế. Sau này nhân dân đã suy tôn Đặng Thạc và người thợ tên Chuẩn thành những vị phúc thần của làng.

Nhân vật được thờ chính tại đình Hoành Sơn là Uy minh vương Lý Nhật Quang , con trai thứ 8 của vua Lý Thái Tổ, là người văn võ song toàn, tư chất hơn người nên tháng 11 năm 1041 vua Lý Thánh Tông đã xuống chiếu cho Lý Nhật Quang làm tri châu Nghệ An. Với tài thao lược về quân sự, tầm nhìn về vấn đề “kinh bang thế thế” trong thời gian đó ông đã có nhiều đóng góp lớn lao trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vùng đất Nghệ An và quốc gia Đại Việt. Ông đã làm một con đường tại Tương Dương, đến nay vẫn là con đường giao thông huyết mạch của vùng núi Nghệ An. Năm 2004, sau gần 10 thế kỷ cùng với dự án nhà máy thủy điện Bản Vẽ, Nhà nước đã cho mở rộng xây dựng con đường này tiện cho việc giao thông của nhân dân trong vùng, đó chính là đường Vẽ- Yên Hòa ngày nay. Ngoài ra đình còn thờ “Tứ vị Thánh nương” và Phật Thích ca Mâu Ni.

Sự hoành tráng, đồ sộ và uy nghi của ngôi đình được thể hiện tập trung nhất ở bái đường có 8 vì, 7 gian với tổng số 32 cột gỗ lim tròn, trong đó có 12 cột cái cao 5,75m, đường kính 0,45m và 20 cột quân cao gần 4m, đường kính 0,42m, ngoài ra rải đều trên 2 mái bằng gỗ lim tròn còn có 26 đường hoanh và 42 đường xà. Nhưng có lẽ điều tạo nên nét đẹp của ngôi đình không chỉ ở kết cấu xây dựng mà chính là nghệ thuật trang trí điêu khắc của nó.

Nếu như trên các ván nong thuyền thể hiện cuộc sống, sinh hoạt và một số phong tục tập quán địa phương nói riêng cũng như xã hội Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII như cảnh đi nơm, chơi cờ người, chơi tu tiên, vinh quy bái tổ, đua thuyền trên sông Lam thi trên các giá chiêng, kẻ, con rường, con đấu và nghé kẻ…là “tứ linh”(long, ly, quy, phượng) và “tứ quý”(mai, điểu, tùng, lộc) . Các nét chạm khi tỉ mỉ công phu, khi mềm mại, khi khỏe khoắn khoáng đạt những cũng có lúc rắn rỏi, dữ dằn. Cũng là phượng nhưng bên tả thì chạm phượng đơn, bên hữu lại là phượng rậm hoặc bên tả thì long ẩn còn bên hữu thì long chầu nguyệt. Lý giải điều này, nhiều cơ sở cho rằng 2 tốp thợ phụ trách việc chạm trổ, phần do tài nghệ, phần do bí mật dấu nghề nên đề tài làng cho đều như nhau nhưng cách thể hiện lại rất khác nhau. Trên các đầu dư là hình tượng “long vân” còn trên các bờ nóc, tàu mái lại là hình tượng “long triều nguyệt”.

Một điều khá thú vị là trên các bức cốn tập trung thể hiện các điển tích xưa, đặc biệt là những biến cố của lịch sử Trung Hoa đã thu hút các nghệ nhân , các sáng tác được thể hiện khá đâm nét như: vua Thành Thang đi rước ông Y Doãn, vua Văn Vương đi rước Thái công, sứ nhà Hán đi mời 4 ông lão. Những điển tích đó đều nói lên sự trung thành của bề tôi đối với triều vua đã sụp đổ. Nguợc dòng lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ họ Trịnh đã lấn quyền của vua Lê, vì thế các bức chạm này thể hiện tư tưởng lớn, không chỉ gửi gắm một tấm lòng trung quân mà còn kêu gọi lòng trung quân của các quan lại đương thời. Tư tưởng trung quân còn được thể hiện trên 5 bức vọng được đục chạm cầu ký nổi bật trên các lá đề là dòng chữ Hán trang trọng “Hoàng thượng vạn vạn tuế” và “Tử thần khí tránh văn chương”.

4.Xếp hạng di tích, danh thắng.

– Đình được công nhận là di tích lịch sử kiến trúc theo quyết định số 92/QĐ-VH ngày 10/07/1980.

Mộ Lê Hồng Sơn và đền Tán Sơn

1.Tên điểm di tích, danh thắng .

– Mộ Lê Hồng Sơn đền Tán Sơn.

2. Địa chỉ.

– Xã Xuân Hòa – Nam Đàn – Nghệ An.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Ngày 19/2/1933, đ/c Lê Hồng Sơn – một trong những đồng chí có tâm huyết với cách mạng và hết lòng hoạt động vì cách mạng từ những ngày sơ khai bị thực dân Pháp kết án tử hình tại chính quê hương của đồng chí làng Xuân Hồ, thi hài của đ/c được nhân dân chôn cất tại Rú Tán. Mãi đến năm 1956, mộ Lê Hồng Sơn mới được cải táng về nơi xử bắn. Qua ba lần tôn tạo tu sửa, hiện nay khu mộ Lê Hồng Sơn có một diện tích rộng, có tường bao quanh, có ao cá, hồ sen, đường đi lối lại đẹp đẽ.

4.Nguồn gốc điểm đi tích.

                                    Lê Hồng Sơn cuộc đời và sự nghiệp.

Lê Hồng Sơn tên thật là Lê Văn Phan, người Xuân Hồ huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An. Chứng kiến cảnh nước nhà bị giày xéo bởi thực dân Pháp, anh đã tham gia vào Việt Nam Quang phục hội do Cụ Phan Bội Châu người cùng huyện Nam Đàn thành lập, nhằm đóng góp một phần nhỏ bé của mình để cởi bỏ ách nô lệ.

Tại Quảng Châu (Trung Quốc), Lê Hồng Sơn cùng với 1 số đồng chí như Phạm Hồng Thái, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong… tách một bộ phận từ Việt Nam Quang phục hội đứng ra thành lập Tân Việt Thanh niên Đoàn (còn có tên là Tâm tân xã). Về phương pháp hoạt động Tâm tân xã chủ trương sẵn sàng làm bất cứ việc gì, kể cả việc trừng trị những tên thực dân đầu sỏ, nhằm thức tỉnh và lôi cuốn đồng bào tham gia và ủng hộ cách mạng ở Việt Nam.
Ngày 19-6-1924, Phạm Hồng Thái đã cải trang, lọt vào được khách sạn Victoria và ném một quả lựu đạn vào bàn tiệc chiêu đãi Toàn quyền Đông Dương Merlin, khi ông ta vừa đến Sa Điện – tô giới của Pháp ở gần Quảng Châu – hòng bàn mưu tính kế đánh phá cách mạng Việt Nam . Lựu đạn nổ, một số tên thực dân chết, nhưng Merlin sống sót. Mục tiêu của cuộc mưu sát không thành, Phạm Hồng Thái được Lê Hồng Sơn hộ vệ định chạy vượt qua cầu, sang TP Quảng Châu, nhưng vì cảnh binh đuổi riết, nên phải nhảy xuống sông Châu Giang để thoát nạn. Do kiệt sức khi bị đuổi theo, nên ông đã hy sinh trên dòng sông.
Ít lâu sau ngày Phạm Hồng Thái hy sinh, Lê Hồng Sơn đã gửi cho chị Cao Thị Chất vợ liệt sĩ bài thơ khóc chồng chị: 

“Nước mất nhà tan ngất hận thù
Tiên sinh nào tiếc tấm thân ru
Ngọn chùy chẳng trúng, tâm bừng cháy
Mũi kiếm không nên, chí diệt thù
Hồn nước tỉnh mau vang tiếng gọi
Lệ đau thương khóc chiếc thuyền trơ
Lưu cầu nếu chẳng đem ra thử
Lận đận làm chi chốn hải hồ”.

Chẳng bao lâu sau đó, một số đoàn viên chuyển sang tham gia Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội do Nguyễn Ái Quốc lập ra. Bên Quảng Châu, Lê Hồng Sơn được kết nạp vào cộng sản Đoàn và được cử vào Ban lãnh đạo Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội và trở thành một cánh tay đắc lực của Nguyễn Ái Quốc trong sự nghiệp xây dựng Đảng cộng sản. Cùng một số chiến hữu thỉnh thoảng về nước, Lê Hồng Sơn phát huy tác dụng có ý nghĩa xác định phương hướng mới cho những đoàn thể cách mạng mới hình thành còn mang nặng dấu ấn của thanh niên trí thức tiểu tư sản.

Lê Hồng Sơn tốt nghiệp trường võ bị Hoàng Phố rồi trở thành một biên tập viên của báo Thanh niên. Anh còn là người cán bộ tuyên truyền và tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, đã có công lao góp phần đưa học thuyết Mác – Lênin vào Việt Nam và giữ một vai trò quyết định trong việc thành lập An Nam Cộng sản Đảng, một tổ chức tiền thân của Đảng cộng sản Việt Nam; Lê Hồng Sơn, con người yêu nước và cách mạng vốn bị thực dân Pháp và bè lũ bủa vây từ lâu. Sau ngày lịch sử mùng 3 tháng 2 và trong lúc phong trào Xô – Viết đang nổi lên; Lê Hồng Sơn được Đảng phân công ở lại Trung Quốc hoạt động trong chi hội Việt Nam của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông và đã bị tay chân của Tưởng Giới Thạch bắt giam. Do có sự can thiệp của người chiến sĩ lão thành Hồ Học Lãm, quê ở Quỳnh Lưu, đang làm tham tán trong Bộ chỉ huy quân đội Quốc dân Đảng ở Vân Nam, Lê Hồng Sơn nhân được lệnh được trục xuất khỏi Trung Quốc. Sang Xiêm, thành lập Ban viện trợ Đông Dương hoạt động trong một thời gian, Lê Hồng Sơn lại tìm cách trở về Thượng Hải và do vụ rải truyền đơn kỷ niệm ngày quốc tế Lao động (1-5-1932), lại bị chính uyền địa phương bắt giam. Mấy tháng sau chính quyền Tưởng Giới Thạch trao Lê Hồng Sơn cho thực dân Pháp đưa về giam ở nhà lao Vinh, rồi đưa ra tòa tuyên án tử hình, và 19 tháng 2 năm 1933, chúng đưa Lê Hồng Sơn về đúng làng quê Xuân Hồ, hành quyết vào lúc anh sang tuổi 34.

5.Xếp hạng di tích, danh thắng.

– Điểm Di tích này được xếp hạng di tích lịch sử theo quyết định số 1423/QĐ – VH ngày 23/07/1980.

Nhà lưu niệm Phan Bội Châu

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Nhà lưu niệm Phan Bội Châu.

2. Địa chỉ.

– Thị trấn Nam Đàn, Nam Đàn, Nghệ An, cách thành phố Vinh 20km về phía tây.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Nhà lưu niệm cụ Phan Bội Châu được xây dựng trên một khoảng đất bằng phẳng có diện tích 1.824m2.Trên đó có ngôi nhà chính và ngôi nhà ngang của cụ Phan Bội Châu.

– Năm 1967, nhân kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của cụ, ngôi nhà xưa của cụ ở làng Đan Nhiệm đã được tôn tạo lại trở thành khu di tích phục vụ du khách đến thăm viếng, chiêm ngưỡng.

– Năm 1987, khu di tích đã được dời lên thị trấn Nam Đàn, là nơi cụ Phan Bội Châu cất tiếng khóc chào đời và sống ba năm đầu của tuổi ấu thơ. Khu di tích lưu niệm cụ Phan Bội Châu gồm hai ngôi nhà gỗ lợp tranh thưng phên nứa kết cấu theo kiểu chữ L trên một khu đất rộng khoảng 366m2. Hai bên cổng vào và bao bọc khu lưu niệm là hai hàng mận hảo được xén tỉa công phu. Trong vườn được trồng các loại cây ăn quả toả bóng mát sum xuê làm cho khu lưu niệm mang vẻ dung dị, thấm đậm dấu ấn làng quê xứ Nghệ.

Trong hai ngôi nhà còn lưu giữ các hiện vật quí gắn với quãng đời cụ sống ở quê hương. Chiếc cối giã gạo bằng đá xanh, cần cối bằng gỗ lim để ở đầu hồi của nhà lớn là kỷ vật của hai bà vợ cụ trong những ngày tần tảo nuôi chồng con. Bộ phản gỗ và yên thư để ở gian ngoài của nhà lớn là nơi cụ Phan dùi mài kinh sử và đàm đạo thơ văn, bàn việc nước với các sỹ phu trong vùng.

Khu di tích này còn lưu lại được bộ tràng kỷ bằng tre, giá sách bằng gỗ và những cuốn sách học chữ của cụ Phan thời niên thiếu.

Nhà trưng bày phụ trợ được xây dựng trên khoảng đất rộng 600m2 ở phía tây khu lưu niệm. Diện tích trưng bày khoảng 100m2. Thông qua hàng trăm bức ảnh tư liệu quí, hiện vật gốc và các tài liệu khoa học, nhà trưng bày đã tái hiện lại được những nét cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp cứu nước của cụ Phan Bội Châu.

Cụ Phan Bội Châu là một chí sỹ yêu nước, ngay từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh. Tuổi nhỏ chứng kiến cảnh nước mất nhà tan và phong trào Cần Vương phục quốc sôi nổi ở khắp nơi đã tác động mạnh mẽ đến nhiệt tình yêu nước của Phan Bội Châu. Năm 18 tuổi ông đã lập “Sỹ tử cần vương đội” định đánh úp thành Nghệ An nhưng không thành. Vừa dùi mài kinh sử, ông vừa tham gia hoạt động yêu nước. Năm 1905, ông sang Nhật và tiếp tục tham gia hoạt động. Những áng văn thơ yêu nước của ông đã có tác động mạnh mẽ trong quần chúng nhân dân và phong trào yêu nước ở Việt Nam. Năm 1925, ông bị thực dân Pháp bắt và đày về nước. Năm 1926 ông mất tại Huế.

Hàng năm, lễ dâng hương tưởng niệm nhà chí sĩ yêu nước được tổ chức rất trang trọng nhân kỷ niệm ngày sinh (26/12) và ngày mất (29/10) của cụ Phan Bội Châu.

5.Xếp hạng di tích, danh thắng.

– Nhà lưu niệm Phan Bội Châu được xếp hạng di tích lịch sử 97/QĐ-VH ngày 21/01/1992 của Bộ Văn hóa thông tin.

*Giờ mở cửa:

Từ 7 giờ đến 17 giờ hàng ngày kể cả ngày lễ, ngày nghỉ cuối tuần.

Khu di tích và miếu mộ vua Mai Hắc Đế

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Khu di tích vua Mai Hắc Đế.

2. Địa chỉ.

– Khu di tích vua Mai Hắc Đế nằm ở ven sông Lam, thuộc địa phận thị trấn Nam Đàn (huyện Nam Đàn), cách thành phố Vinh khoảng 22km về phía tây.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Để tưởng nhớ công ơn vua Mai Hắc Đế – vị anh hùng có công đánh đuổi giặc Đường, lập nên nhà nước Vạn An độc lập ở thế kỷ 8, một ngôi đền đã được lập để thờ ông tại đúng vùng đất ông đã lập căn cứ địa của nghĩa quân vua Mai thuở trước. Khu di tích vua Mai Hắc Đế nằm ở ven sông Lam, thuộc địa phận thị trấn Nam Đàn (huyện Nam Đàn), cách thành phố Vinh khoảng 22km về phía tây. Tại khu di tích này có 3 hạng mục là đền vua Mai, mộ vua Mai (cách đền khoảng 3km) và mộ mẹ vua Mai.

Đền thờ vua Mai được xây dựng trên một mảnh đất rộng rãi thoáng đãng tại vùng đất Sa Nam. Trước đây đền vua Mai là một ngôi đền nhỏ, kiến trúc đơn giản. Đến năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) được xây dựng khang trang, to đẹp, kiến trúc theo kiểu chồng diêm 8 mái. Lần trùng tu gần đây nhất vào đầu thời Nguyễn. Đền được giữ nguyên kiến trúc theo kiểu chữ “Tam”, hạ điện 5 gian theo kiểu chồng diêm 8 mái, quy mô tương đối lớn, trang trí rồng phương công phu, các câu đối, đại tự, hương án kiệu rồng được sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Đền có diện tích trên 10.000m2.

 
 

Từ đền vua Mai, du khách theo đê 42 hoặc đi thuyền ngược theo tả ngạn sông Lam khoảng 3km về phía tây là đến khu mộ vua Mai. Lăng mộ vua Mai được xây dựng ngay trên khu đất an táng hài cốt Ngài qua đời năm 723, trong thung lũng núi Đụn rộng vài chục mẫu, ba mặt có núi bao quanh, ngoảnh mặt về hướng đông, nhìn thẳng ra dòng sông Lam. Ngôi mộ được xây theo kiểu “thượng miếu hạ mộ” (miếu ở trên, mộ ở dưới). Hiện nay khu mộ đã được tôn tạo lại có qui mô bề thế, trang trí công phu. Khu mộ vua Mai Hắc Đế gồm có mộ, hậu cung, bái đường.

Cách khu lăng mộ vua Mai vài ba cây số về phía Bắc, tại núi Giẻ ở làng Ngọc Trừng  xã Nam Thái có lăng mộ mẹ vua Mai, năm 2000, ngôi mộ đã trùng tu và tôn tạo trên cơ sở giữ nguyên hài cốt tại vị trí người dân địa phương mai táng khi bà tử nạn cách đây hơn 1.300 năm trên đỉnh núi Giẻ.

Theo các tài liệu lịch sử để lại, Mai Thúc Loan vốn gốc quê ở Mai Phụ, một làng chuyên nghề làm muối ở ven biển huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay. Sau đó mẹ ông rời lên làm nhà dưới gốc cây Mai tại núi Giẻ, làng Ngọc Trừng, thuộc xã Nam Thái, huyện Nam Đàn ngày nay, sinh ra ông. Từ nhỏ ông đã phải chứng kiến nỗi gian truân, cực nhục của việc cống nạp sản vật lên triều đình nhà Đường. Bản thân ông cũng bao lần phải chịu cảnh cực nhục trên. Chính vì vây ông đã dấy binh khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Đường vào năm 722 và được ba quân suy tôn lên làm vua. Cuộc kháng chiến kéo dài 5 năm (722-726).

Tuy cuộc khởi nghĩa chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn nhưng đã để lại một kỳ tích lớn lao. Lần đầu tiên trong lịch sử nghĩa quân của Mai Hắc Đế đã quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, lập nên nhà nước Vạn An độc lập, tự chủ ở thế kỷ 8, buộc nhà Đường sau đó phải bãi bỏ lệ cống nạp sản vật và thay đổi một số chính sách cai trị dân.

5.Xếp hạng di tích, danh thắng.

– Khu di tích Mai Hắc Đế đã được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia từ 12/1/1996 theo quyết định số 51/QĐ-BT của Bộ Văn hóa thông tin.

Khu di tích lịch sử văn hoá Kim Liên

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Khu di tích lịch sử văn hoá Kim Liên hay còn gọi là Quê Bác.

2. Địa chỉ.

– Khu di tích Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Khu di tích Kim Liên được thành lập từ năm 1956, thuộc lại hình di tích lưu niệm danh nhân, là di tích đầu tiên trong hệ thống bảo tàng và di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn quốc được Đảng và Nhà nước ta có chủ trương bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng những giá trị di sản văn hoá về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá  thế giới”

54 năm qua, đặc biệt là từ năm 1990 đến nay, mỗi năm Khu di tích Kim Liên đón tiếp tận tình chu đáo, an toàn tuyệt đối cho nhiều đoàn khách cao cấp của Đảng, Nhà nước, các đoàn Nguyên thủ quốc gia của các nước và phục vụ hàng triệu lượt khách tham quan trong nước và bầu bạn quốc tế về tham quan, nghiên cứu, học tập.

Trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 12 di tích lưu niệm về thời niên thiếu và 2 lần Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê hương và có 6 điểm di tích đã đựoc dựng bia ghi dấu sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và nói chuyện thân mật với cán bộ, đảng viên và công nhân viên chức lao động trong tỉnh nhà. Trong số đó có 8 di tích và hơn 4 ngàn hiện vật tài liệu do Khu di tích Kim Liên trực tiếp quản lý, số còn lại do Ban di tích danh thắng tỉnh Nghệ An và một số đơn vị, địa phương khác quản lý.

4. Lễ hội.

– Ngày 19/5 hàng năm.

5.Xếp hạng di tích, danh thắng.

– Khu di tích lịch sử Kim Liên được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia  theo quyết đinh số 993/QĐ-BVH ngày 28/9/1990 của Bộ Văn hóa thông tin.

6.Các điểmtham quan tại Khu di tích lịch sử văn hoá Kim Liên

I.Khu di tích Hoàng Trù (làng Chùa) quê ngoại của Chủ tịch HCM

Cụm di tích Hoàng trù( làng Chùa) quê ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nằm ở trung tâm xóm Trù I xã Kim Liên-huyện Nam Đàn- Nghệ An, cách thành phố Vinh 14 km về hướng Tây theo Quốc lộ 46, đến km số 14 ré trái đi khoảng 1km nữa là đến di tích Hoàng Trù. Cụm di tích này bao gồm có 3 ngôi nhà: Ngôi nhà tranh 5 gian của cụ Hoàng Xuân Đường và Nguyễn Thị Kép( ông bà ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh); nhà thờ chi nhánh họ Hoàng Xuân( họ ngoại Bác Hồ); ngôi nhà tranh 3 gian của bà Hoang thị Loan và ông Nguyễn Sinh Sắc( thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh), cả 3 ngôi nhà này đều nằm trong khu vườn rộng 7 sào Trung Bộ tương đương 3.500m2. Noi đây đã chứng kiến những sự kiện quan trọng trong quãng đời thơ ấu của Chủ tịch Hồ Chí Minh : nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh cất tiếng khóc chào đời vào ngay 19.5.1890 và sống trọn 5 năm đầu tuổi ấu thơ trong tình yêu thương, nuôi dưỡng của ông bà ngoại, bố mẹ, anh chị và bầ con làng xóm và cũng chính nơi đay ngày 09-12-1961 trong lân vêf  thăm quê lần thứ 2 với cử chỉ thân tình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ngồi trước thềm nhà và nói chuyện thân mật với bà con trong làng sau 55 năm xa cách quê hương.

Cụm di tích Hoàng trù đã đựoc xếp hạng di tích lịch sử văn hoá Quốc gia năm 1990.

II. Di tích Làng Sen- quê nội của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cụm di tích làng Sen cách cụm di tích Hoàng Trù hơn 1,5km về hướng Tây Nam trên trục đường tham quan 540. Cụm di tích này bao gồm: Nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh sắc( thân phụ Chủ tịch Hồ Chí Minh); Giếng cốc; lò rèn cố Điền là nơi ghi dấu những kỷ niệm sâu sắc trong quãng đời niên thiếu và hai lần Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê hương. Năm 1901 ông Nguyễn Sinh Sắc đậu phó bảng, bà con làng Kim Liên đã trích quỹ học điền mua và dựng cho ông một ngôi nhà tranh 5 gian, anh trai Nguyễn Sinh Trợ ( Nguyễn Sinh Thuyết) mừng cho em ngôi nhà ngan 3 gian dựng trên mảnh vườn rộng 4 sào 14 thước Trung Bộ tương đương 2.500m2, trong lễ mừng “ Vinh quy bái tổ’ ông phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và 3 con của mình là bà Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Cung về sống ở ngôi nhà này, khi về sống cùng cha, anh, chị và bà con làng xóm ở làng Sen, trong những tháng năm đó Nguyễn Sinh Cung tức Nguyễn Tất Thành (tên gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời niên thiếu) đã được tiếp xuc với các nhà nho yêu nước nổi tiếng trong vùng được mệnh danh là “ Tứ hổ Nam Đàn” thường hay lui tới nhà ông phó bảng Nguyễn Sinh Sắc để đảm bảo thời cuộc, bình thơ và cũng chính từ những lần tiêpc xúc đó chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã sớm  hình thành ý thức trách nhiệm của một người dân mất nước, phải ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Năm 1906 Nguyễn Tất Thành tạm biệt quê nhà theo cha vào Huế ăn học và tham gia các hoạt động chống kại cái gọi là “Tự do, bình đẳng, bác ái” của thực dân Pháp. Năm 1911 với tên gọi Nguyễn Văn Ba  đã lên Tàu La tút sơ tờ revin và bắt đầu hành trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân.

Sau hơn 50 năm xa cách quê hương, sáng ngày Chủ nhật 16-6-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm ngôi nhà của ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và noíi chuyện thân mật với Đảng bộ và nhân dân xã Kim Liên; 5 năm sau ngày 09-12-1961 Bác Hồ về thăm quê lần thứ  2, sau khi thăm ngôi nhà thân quen của mình Bác đã đến thăm và nói chuyện với Đảng bộ và nhân dân xã Kim Liên quê Bác.

Năm 1990 cụm Di Tích Làng Sen đã được xếp hạng di tích  lịch sử văn hoá Quốc gia.

III. Di tích Nhà Thờ Họ Nguyễn Sinh, họ nội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhà Thờ đại tôn họ Nguyễn Sinh cách nhà ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc khoảng 200m nằm ở trung tâm xóm Sen 3 xã Kim Liên- Nam Đàn- Nghệ An, trong khu vườn rộng khoảng 800m2. Thuỷ tổ dòng tộc Nguyễn Sinh ở Làng Sen là ông Nguyễn Bá Phổ mẫi đến đời thứ tư mới đổi thành Nguyễn Sinh và tên đó tồn tại mãi cho đến ngày nay. Họ Nguyễn Sinh là một dòng họ là một dọng họ lớn ở xã Kim Liên từ xưa tới nay có nhiều người học giỏi và đỗ đạt cao, trải qua nhiều tháng năm gây dựng, phấn đấu các thế hệ tiếp nối đã tô điểm và làm nổi tiếng cho dòng họ, đặc biệt thế hệ thứ mười ba dòn họ đã có công sinh thành Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Người không những chỉ làm vinh danh cho dòng họ mà còn rang danh cho dân tộc Việt Nam trở thành biểu tượng anh hùng và lương tri cho mọi thời đại.

Ngày 16-6-1957, sau năm mươi năm xa cách quê hương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm nhà thờ họ, Người đã kính cẩn nghiêng mình dâng nén hương thơm tưởng nhớ tổ tiên, sau đó ân cần hỏi thăm tình hình mọi mặt của bà con trong họ, động viên mọi người cố gắng tăng gia sản xuất, đoàn kết xâyy dựng dòng họ, xây dựng dòng họ, xây dựng quê hương.

Năm 1991 nhà thờ họ Nguyễn Sinh được xếp hạng là Di tích lịch  sử văn hoá Quốc gia.

IV. Di tích ngôi nhà cụ Nguyễn Sinh Nhậm – ông nội của Chủ tịch HCM.

Ngôi nhà cụ Nguyễn Sinh Nhậm- ông nội của Chủ tịch Hồ Chí Minh thuộc xóm Phủ Đầm, Làng Sen nay gọi là xóm Sen 3, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, cách nhà ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc khoảng 250m về hướng Đông trong kkhu vườn rộng 3 sào, 5 thước trung bộ tương đương 1.765m2 gồm có hai ngôi nhà, ngôi nhà lớn là nơi thờ tự và tiếp khách, ngôi nhà ngang là nơi sinh hoạt thường ngày của gia đình. Cụ Nguyễn Sinh Nhậm thuộc  thế hệ thứ 10, là chi họ I của dòng họ Nguyễn Sinh đây là một chi họ có truyền thống học giỏi, yêu nước và thành đạt đã làm rạng danh cho dòng họ,  trong đó có: Ông Nguyễn Sinh Diên sớm hoạt động yêu nước và trở thành Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong những năm mới thành lập; Nguyễn Sinh Thản đã chiến đấu hy sinh tại Matxcơva năm 1941 và được công nhận là liệt sỹ quốc tế năm 1985; Nguyễn Sinh Hùng, Uỷ viên Bộ Chính Trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Thủ tướng  Thường trực Chính phủ nước Cộng hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đặc biệt tại ngôi nhà này, ông Nguyễn Sinh Nhậm và bà Hà Thị Hy đã sinh thành người con trai  thhông minh, dĩnh ngộ đó là Nguyễn Sinh Sắc ( thân phụ Chủ Tịch Hồ Chí Minh).

Thời niên thiếu ba người con yêu nước của Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tất Thành thường sang đây thắp hương tưởng niệm ông bà nội và cũng chính tại ngôi nhà này anh, chị của Bác thường lấy làm nơi bí mật để làm nơi hoạt động yêu nước. Ngày 23 tháng 8 nawm Canh Dần (1950), Nguyễn Sinh Khiêm tức Nguyễn Tấn Đạt người anh trai rất mẫu mực và tôn  kính của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mất tại đây. Ngôi nhà này đã chứa đựng nhiều giá trị lịch sử không những cuẩ quôc gia mà còn mang ý nghĩa  quốc tế.

Năm 1990 ngôi nhà cụ Nguyễn Sinh Nhậm được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hoá Quốc gia.

V. Di tích ngôi nhà cử nhân Vương Thúc Quý-Thầy học của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời niên thiếu.

Ngôi nhà thày cử nhân Vương Thúc Quý cách Di tích cụ phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc khoảng 200m về phía Tây, nằm trong mảnh vườn rộng 3 sào 9 thước trunng bộ tương đương 1.775m2 thuộc xóm Sen 4 xã  Kim Liên- huyện Nam Đàn- tỉnh Nghệ An gồm có 2 ngôi nhà, ngôi nhà trên làm nơi thờ tự, dạy học, tiếp khách; ngôi nhà ngang là nơi sinh hoạt thường ngày của cả gia đình.

Thầy cử nhân Vương Thúc Quý sinh năm Nhâm Tuất (1862) là con trai của Tú tài Vương Thúc Mậu lãnh tụ Chung nghĩa binh chống Pháp tại Kim Liên và đã hy sinh anh dũng vào năm 1896. Vương Thúc Quý đậu cử nhân ở Trường Nghệ Khoa Tân Mão (1981), ônng  là một trong “Tứ hổ Nam Đàn”, ông là người tài hoa,  thông minh, mẫn tiệp, giàu lòng yêu nước và đầy nghĩa khí, ông lập ra ngôi nhà này là để thờ cha mình là Lãnh tụ Chung nghĩa binh Vương Thúc Mậu, ngoài ra còn là nơi diễn ra nhiều cuộc mật đam quan trọng của các chí sỹ yêu nước nổi tiếng đương thời như Phan Bội Châu, Đặng Thái Thân, Nguyễn Sinh Sắc…nơi đây là lớp học để ông dạy chữ cho con em trong vùng, đặc biệt vào khoảng tháng 7 năm 1901, Nguyễn Sinh Cung (tên của Chủ Tịch Hồ Chí Minh thời niên thiếu) và cùng anh trai là Nguyễn Sinh Khiêm được phó bảng Nguyễn Sinh Sắc gửi sang đây để học chữ thánh hiền. Vốn là người thông minh, ham học, ham hiểu biết và có chí tiến thủ, sau nhiều lần thử tài, thầy cử nhân Vương Thúc Quý đã phát hiện ra năng lực, ý chí hơn người và hết sức tin yêu và quan tâm đặc biệt, gửi gắm nhiều kỳ vọng lớn lao của mình đối với học trò Nguyễn Sinh Cung. Ngôi nhà học đường này cùng người thầy đáng kính Vương Thúc Quý là môi trường tư tưởng, văn hoá tốt đẹp góp phần ươm trồng tài năng, nghị lực của Nguyễn Sinh Cung. Trong hai lần về thăm quê Chủ tịch Hồ Chí Minh đều hỏi thăm gia đình cử nhân Vương Thúc Quý. Người nói: “Thầy cử Vương là thầy học của Bác thời niên thiếu”.

Năm 1990, nhà thầy cử nhân Vương Thúc Quý được xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá Quốc gia.

VI. Cây đa, sân vận động, đền Làng Sen.

Cây đa, sân vận động, đền Làng Sen nằm ở trung tâm Làng Sen thuộc xóm Sen 3 và Sen 4 xã Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An cachs nhà ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc khoảng 200m về hướng Bắc, nơi đây thường diễn ra các hoạt động văn hoá dân gian, in đậm trong tâm thức của nhiều thế hệ dân làng. Cây đa, sân vận động, đền Làng Sen không những biểu tượng văn hoá của nhân dân xã Kim Liên mà còn ghi dấu ssự kiện quan trọng và đi vào lịch sử như một nhân chứng ghi lại những kỷ niệm sâu sắc trong hai lần Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê ngày 16-6-1957 và ngày 09-12-1961 và cũng chính tại nơI đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện thân mật với bà con xã Kim Liên và nhân dân Nam Đàn trong hai lần được đón Bác về thăm.

Cây đa, sân vận động, đền Làng Sen đã được xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá Quốc gia năm 1991.

VII. Di tích Núi Chung.

Núi Chung là một quần thể di tích danh thắng của xã Kim Liên, nơI đây Danh sỹ Nguyễn Thiếp (1723- 1804) đã từng ca ngợi: “Chung Sơn tam đỉnh hình vương tự, Kế thế anh hùng vượng tử tôn” nghĩa là “ Núi Chung có ba đỉnh hình chữ vua, nối nghiệp cha anh con cháu sẽ nở rộ những anh hào”.

Núi Chung nơI căn cứ của Chung nghĩa binh – Đội sỹ tử của phong trào Cần Vương chống Pháp, dưới sự lãng đạo của tú tài Vương Thúc Mậu, nơI đây có Đền tháng cả thờ Xuân Lâm tướng quân Nguyễn Đắc Đài, một tướng giỏi Triều Trần; có lầu gắc chuông, chùa Bảo Quang, lăng Quan Tả và là nơI Chi bộ Lâm Thịnh đã bí mật hoạt động ở đây từ những năm 1930- 1931.

Nguyễn Sinh Cung tức Nguyễn Tất Thành tên gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời niên thiếu thường cùng vơI các bạn trong vùng lên đỉnh núi Chung ngắm cảnh quê hương, thả diều, kéo co, đánh trận giả và nhiều trò chơI thú vị khác. Núi Chung nơI ghi dấu và những chứng tích lịch sử của địa phương và những kỷ niệm êm đẹp trong quãng đời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quê hương.Năm 1991 núi Chung đã được xếp hạng là Di tích lịch sử cấp Quốc gia.

VIII. Mộ bà Hoàng Thị Loan ( thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh).

– Mộ bà Hoàng Thị Loan ( thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh) toạ lạc trên đỉnh núi Động tranh thấp trong một khu rừng rộng hơn 10ha, thuộc xóm 10 xã Nam Giang, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An cách Cụm Di tích Hoàng Trù, Làng Sen khoảng chừng 4km về hướng Đông Bắc.

– Từ nhiều năm nay, mộ bà Hoàng Thị Loan đã đón hàng vạn lượt khách trong nước và bầu bạn quốc tế đến dâng hương, tưởng niệm với tấm lòng thành kính và biết ơn sâu sắc người mẹ đã có công sinh thành và nuôi dưỡng Chủ tịch Hồ Chí Minh một vĩ nhân được thế giới tôn vinh “Anh hùng giải phóng dân tộc- Danh nhân văn hoá thế giới”.

– Bà Hoàng Thị Loan sinh năm Mậu Thìn (1868) ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An là con gái đầu lòng của cụ Hoàng Xuân Đường và Nguyễn Thị Kép. Năm 1883 vượt qua sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến, bà kết hôn vơI Nguyễn Sinh Sắc,, chàng nho sinh nghèo, mồ côI được cụ Hoàng Xuân Đường nuôi cho ăn học. Bà Hoàng Thị Loan, người con gái đẹp người, đẹp nết, thông minh, giản dị cần cù, tảo tần vất vả giúp chồng ăn học và nuôI con khôn lớn, bà đã có công sinh thành và dưỡng dục 3 người con yêu nước Nguyễn Thị Thanh – tự Bạch Liên (1884), Nguyễn Sinh Khiêm – tự Tất Đạt(1888) và Nguyến Sinh Cung – tự Tất Thành tức Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890) các con của bà đều là người giàu nghị lực, chí yêu nước thương nòi và làm nên việc lớn có ích cho nước có lợi cho dân.

– Năm 1895 bà quyết tâm cùng chồng và đưa hai con trai của mình là Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung vào Huế giúp chồng học tập và nuôI con trưởng thành. Ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý (10-02-1901) bà mất tại Huế, thi hài của bà được bà con xứ Huế mai táng ở núi Tam Tầng bên dãy núi Ngự Bình – Huế.

– Năm 1922 hài cốt của bà được con gái đầu lòng Nguyễn Thị Thanh đưa về táng trong vườn nhà tại Làng Sen.

– Năm 1942 người con trai cả là Nguyễn Sinh Khiêm chuyển hài cốt của bà đặt ở Núi Động tranh thấp.

– Tháng 5- 1984 Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh cùng lực lượng vũ trang quân khu 4 đã tôn tạo phần mộ của bà tại vị trị cũ như hiện nay.

– Năm 2010, khu mộ bà Hoàng Thị Loan lại một lần nữa được tu bổ tôn tạo lại. Ngày 21/7/2010 công trình được khởi công xây dựng và khánh thành ngày 3/6/2011. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã về dự lễ.

Khu mộ bà Hoàng Thị Loan hiện nay là một công trình kiến trúc có kiểu dáng đẹp và gần gũi, mái che mộ có hình khung cửi cách điệu với 6 dải lụa mềm mại gợi nhớ cuộc đời canh cửi vất vả nuôi chồng nuôi con thuở sinh thời. Phía sau phần mộ là bức phù điêu bằng đá trắng khắc hoạ những cánh hoa sen thanh tao, tinh khiết của quê nhà và cũng là biểu tượng về cuộc đời và nhân cách của bà. công trình không đồ sộ mà khiêm nhường, lặng lẽ mà hài hoà với cảnh quan Động Tranh, dãy Đại Huệ và cả vùng non nước Hồng Lam.

Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh.

2. Địa chỉ.

– Số 10 – Đào Tấn – Khối 3 – P. Cửa Nam-Tp Vinh – NA.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Bảo tàng được thành lập ngày 15/1/1960, là đơn vị ra đời thứ 3 của hệ thống bảo tàng Việt Nam, sau bảo tàng lịch sử Việt Nam (1958), bảo tàng Cách mạngViệt Nam (1959).

– Bảo tàng được xây dựng 2 tầng, trên một khu đất rộng 2 ha vừa có kiến trúc đẹp, cổ kính, vừa hiện đại vừa mang đậm nét bản sắc dân tộc. Đây là công trình văn hoá độc đáo lưu giữ trên 5.000 hiện vật gốc và các tư liệu thể hiện tinh thần cách mạng kiên cường bất khuất của nhân dân Nghệ Tĩnh trong cao trào Xô Viết 1930 – 1931.

– Trong diện tích trưng bày 1000m2 chia làm 10 phòng khép kín, liên hoàn giới thiệu toàn bộ diễn biến và tiến trình của cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh.

– Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh là nơi giữ gìn và ghi nhớ truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng, sưu tập, lưu giữ những hiện vật giá trị như: trống đấu tranh, máy ấn loát, vũ khí, các con triện, tranh, ảnh các chiến sỹ cách mạng… và một hệ thống 49 di tích Xô Viết Nghệ Tĩnh đã được Bộ Văn hoá thông tin xếp hạng trong danh mục di tích lịch sử văn hoá Quốc gia.

– Mỗi năm Bảo tàng đón tiếp 5 vạn lượt khách tham quan, trong đó nhiều đoàn khách nước ngoài như: Lào, Căm pu chia, Anh, Pháp, Mỹ, Nga… Bảo tàng XVNT được vinh dự đón tiếp nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước như: Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Chủ tịch Trường Chinh, Tổng Bí thư Đỗ Mười, Đại tướng Võ Nguyễn Giáp, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm Bộ trưởng Bộ VH-TT Nguyễn Khoa Điềm…

– Bên cạnh việc phục vụ khách tham quan tại nhà trưng bày, bảo tàng đã xây dựng bộ trưng bày lưu động phục vụ nhân dân các huyện đặc biệt là nhân dân ở vùng sâu vùng xa. Đồng thời tổ chức nhiều cuộc giao lưu văn hoá, nói chuyện truyền thống với thanh thiếu niên, học sinh về Xô Viết Nghệ Tĩnh, về Đảng và Bác Hồ và đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với thế hệ trẻ.

5.Xếp hạng di tích, danh thắng.

Đền đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia năm 1997 theo quyết định số 423/QĐ-VH ngày 20/02/1997.

Bảo tàng Quân khu IV

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Bảo tàng Quân khu IV.

2. Địa chỉ.

– Số 189 đường Lê Duẩn – Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Bảo tàng Quân khu IV, thuộc loại hình lịch sử quân sự có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, trưng bày, tuyên truyền giới thiệu các tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học phản ánh quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của lực lượng vũ trang Quân khu IV trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

– Địa điểm này trước đây nằm trong khu vực Phượng Hoàng Trung Đô của Quang Trung – Nguyễn Huệ, và cũng là nơi diễn ra phong trào Xô Viết (1930 – 1931) với các địa danh Trường Thi, Bến Thuỷ… Cũng tại nơi đây, ngày 16/12/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với cán bộ chiến sỹ Quân khu IV nhân dịp Người về thăm quê hương lần thứ 2.

– Bảo tàng quân khu IV được thành lập ngày 22/12/1966. Tại bảo tàng, phần diện tích mặt bằng của 6 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế chiếm khoảng 2.180m2. Phần diện tích trưng bày trong bảo tàng chiếm khoảng 2.000m2, còn lại là kho bảo quản và các hoạt động văn hoá khác gần 2.500m2.

– Bảo tàng có gần 10.000 hiện vật lịch sử. Nội dung trưng bày được thể hiện qua 6 phần:

+ Chủ tịch Hồ Chí Minh với lực lượng vũ trang Quân khu IV.

+ Địa bàn chiến lược, truyền thống yêu nước và cách mạng.

+ Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

+ 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975).

+ Đoàn kết Quốc tế Lào – Việt.

+ Lực lượng vũ trang nhân dân quân khu IV trong sự nghiệp đổi mới.

– Phần trưng bày ngoài trời có diện tích 500m2, gồm những hiện vật thể khối lớn như máy bay, tên lửa, pháo của quân và dân quân khu IV đã lập nhiều chiến công xuất sắc cùng với các chiến lợi phẩm thu được của địch trong các chiến dịch như Đường 9 Khe Sanh, thành cổ Quảng Trị (1972), tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, tổng tiến công nổi dậy Xuân 1975, giải phóng Thừa Thiên Huế, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Ngoài ra còn nhiều hiện vật, hình ảnh nói lên các hoạt động và chiến công của quân và dân quân khu IV trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ năm 1945 đến nay.

Trong suốt quá trình xây và trưởng thành, mỗi năm bảo tàng đón gần 100 ngàn lượt khách đến tham quan.

4.Xếp hạng di tích, danh thắng.

 – Năm 1998 Bảo tàng Quân khu IV đã được Bộ văn hoá xếp hạng Bảo tàng Quốc gia loại 2.

5. Giờ mở cửa bảo tàng:

– Từ 7 giờ đến 17 giờ hàng ngày kể cả ngày lễ, ngày nghỉ cuối tuần.

Chùa Cần Linh

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

 Linh Vân tự hay còn gọi là Chùa Cần Linh hoặc Chùa Sư Nữ.

2. Địa chỉ.

 Phường Cửa Nam, tp Vinh, Nghệ An.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Đại Nam nhất thống chí có đoạn viết: Vào đời Đường ý Tông, Cao Biền, một tướng giỏi, đồng thời cũng là nhà địa lý nổi tiếng được cử sang nước Nam làm Tiết độ sứ. Khi đặt chân lên đất Nghệ An, nhận thấy long mạch ẩn vào dãy núi Đại Huệ kéo dài về phía Đông, tạo thành phần đầu của con rồng, biểu hiện tụ khí địa linh nhân kiệt, năm 886 Cao Biền đã cho dựng chùa ở đây để cầu may. Cao Biền đặt tên chùa là Linh Vân tự, nghĩa là chùa mây thiêng.

– Ngoài tên gọi Cần Linh, chùa còn có tên Sư Nữ, vì các vị sư trụ trì ở đây là nữ. Vào cuối thời Lê, chùa được xây dựng lại đẹp hơn, trên mảnh đất cao ráo, thoáng đãng ở phía Tây Nam thành phố Vinh. Sách xưa ghi rõ, ngôi chùa thuộc làng Vang, tổng Yên Trường, huyện Chân Lộc, phủ Đức Quang. Chùa nhìn ra bến sông lộng gió, có giếng đá nước trong veo, trước chùa có hai cái ao như đôi mắt của rồng. Phía Đông và Nam chùa có sông Cồn Mộc quanh năm nước chảy hiền hoà.

– Trước đây, đã từng có hai vị vua đến thăm chùa, đó là vua Tự Đức và vua Bảo Đại. Đặc biệt, vua Tự Đức đã tặng chùa hai bức vọng bằng chữ Hán với dòng chữ Triện đề: “Vương Triều Đức Tự hiến cúng” cùng bức đại tự Cần Linh, ý nói chùa rất thiêng. Năm 1942, Sư bà Diệu Viên đã tổ chức đại tu ngôi chùa, bảo tồn được nhiều tượng cổ. Ngoài chiếc chuông đồng có niên đại lâu nhất Việt Nam, trên có khắc tên chùa, trong chùa hiện còn lưu giữ khoảng 70 pho tượng cổ và rất nhiều hoành phi câu đối. Đáng quý nhất là bức tượng Phật Thích Ca làm bằng gỗ mít, sơn son thiếp vàng, đặt ở ngay trung tâm nhà thượng điện, lòng từ bi, nhân ái của Đức Phật được thể hiện rất rõ trên từng đường nét tạo hình của pho tượng.Bức tượng này có giá trị cả về nghệ thuật điêu khắc lẫn niên đại ra đời, bức tượng đã thể hiện được lòng từ bi, nhân ái của Đức Phật. Kế tiếp sư bà Diệu Viên là Ni sư Diệu Niệm, trong 20 năm trụ trì đã trùng hưng ngôi chùa thành một ngôi chùa khang trang, là điểm sinh hoạt tâm linh cho nhân dân quanh vùng.Sau khi Ni sư Diệu Niệm qua đời, Ni sư Diệu Nhẫn đã kế tục và phát triển những thành quả mà bà đã gây dựng. Bằng sự thông tuệ của mình, chỉ hơn 10 năm trụ trì, ni sư Diệu Nhẫn đã xây dựng được 10 công trình nhằm mục đích trùng tu, bảo dưỡng địa danh được công nhận Di tích lịch sử, văn hóa cấp Quốc gia này. Cùng với quả chuông cổ có tuổi thọ hơn 300 năm, trước cổng tam quan của ngôi chùa, ni sư Diệu Nhẫn đã cho đúc một pho tượng Phật bà nghìn tay, nghìn mắt bằng đồng đỏ nguyên chất, nặng 8 tấn được trộn lẫn với 2kg bạch kim, 3,1 cây vàng, đặt trên tòa sen có chiều cao 3m, rộng 2,5m. Đây là một trong những bức tượng lớn nhất Việt Nam từ trước đến nay.

– Ngày nay, Chùa Cần Linh không chỉ là nơi thờ Phật, sinh hoạt văn hoá tâm linh của nhân dân quanh vùng, mà còn là điểm du lịch hấp dẫn du khách.

4.Xếp hạng di tích, danh thắng.

– Chùa Cần Linh đã được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1992 theo quyết định số 97/QĐ-VH ngày 21/01/1992 của Bộ Văn hóa.

Cụm di tích làng đỏ Hưng Dũng

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Cụm di tích làng đỏ Hưng Dũng.

2. Địa chỉ.

– Hưng Dũng, Vinh, Nghệ An.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

Cụm di tích làng đỏ Hưng Dũng gồm có : Dặm mụ Nuôi, Cây Sanh chùa Nia, Đình Trung, Nhà ông Nguyễn Hữu Diên,

3.1. Dặm mụ Nuôi.

– Dăm mụ Nuôi diện tích khoảng 20 mẫu, trước kia là một bãi cát hoang nằm giữa đồng lúa, nơi kia trước đây có đền đức thánh tổ thờ Thần. Cây cối um tùm là chốn linh thiêng nên ít người qua lại có điều kiện giữ bí mật nên chi bộ Hưng Dũng cũng đã chọn nơi đây làm nơi thành lập chi bộ Đảng.

– Dăm mụ nuôi là một vùng đất nhỏ thuộc xã Hưng Dũng nhưng nó đã chứng kiến sự ra đời của một chi bộ Đảng, nơi đây còn là địa điểm liên lạc hội họp, mít tinh của chi bộ Hưng Dũng trong những năm 1930-1931. Sau này khi cách mạng tháng 8 thành công, nhiều cuộc họp xứ ủy Trung kì cũng được tổ chức tại đây.

– Hiện nay , diện tích của vùng đất đã bị xâm thực.

3.2.Cây Sanh chùa Nia.

– Cây sanh chùa Nia, 1 địa điểm trên vùng đất của làng đỏ Hưng Dũng trong 1 thời gian hơn 1 năm nó đã ghi nhận 3 cuộc đấu tranh quyết liệt của nhân dân làng Hưng Dũng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Những cuộc đấu tranh này góp thêm ngọn lửa trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh .

-Cây sanh chùa Nia trước là vùng đất rộng khoảng 5 mẫu, ở đây nhân dân đã trồng một cây sanh cao khoảng 15 m, ở xa có thể trông thấy, cành lá sum suê che bóng mát, có chàu Nia 2 gian thờ phật không rõ tên. Hàng năm nhân dân thường đến đây để làm lễ cầu yên. Trước khi chưa có Đảng vùng đất này thường là nơi tập trung trong những ngày rằm, tháng tết của nhân dân vùng lân cận. Bọn hào lý thường đến đây chè chén hạch sách nhân dân. Đây là vùng đất không canh tác thuận đường sá đi lại ở vùng trung tâm xã nên trong thời kì 1930-1931 chi bộ đã chọn đó để làm nơi đấu tranh cách mạng.Hiện nay chùa Nia không còn nữa nhưng cây Sanh vẫn được chăm sóc tốt.

3.3. Đình Trung.

– Đình Trung ngày xưa được xây dựng trên 1 khu đất rộng, đình 5 gian phía trước có cổng vào, phía sau có sân tế. Ngày xưa đình được xây dựng để dùng nơi làm việc cho bọn hương hào chức sắc trong làng. Tháng 6 và tháng 7 trong làng có hội lễ, bọn hào lý thường ra hạch sách nhân dân. Đình được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ lim, nhà tứ trụ, mỗi cột cao 4m, toàn bộ đình dài 12m, rộng 4m, ở trong thung ván có bao lơn chạy quanh. Tại các đầu dao của đình được chạm trổ khá cầu kỳ.

Đền Hồng Sơn

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Đền Hồng Sơn.

2. Địa chỉ.

– Phường Hồng Sơn, Thành phố Vinh ( Gần chợ Vinh)

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

 – Đền xưa có tên là Võ Miếu,cũng có lúc gọi là Đức Ông. Đến năm 1984 đền được mang tên địa danh nên có tên là đền Hồng Sơn.

– Ngôi đền này do Đốc học Nguyễn Đình Lập và tướng quân Hồ Văn Lưu khởi công năm 1831.Năm 1837 khánh thành thượng điện, trung điện, còn hạ điện, tả vu, hữu vu được tiếp tục xây dựng. Đền được trùng tu và hoàn thiện nhiều lần trong triều Nguyễn.

– Tương truyền đền Hồng Sơn trước đây thờ Quan Công (tức quan Quan Vân Trường, người có tài dụng võ trong thời Tam Quốc).Sau này có hợp tự một số đền trên thành phố Vinh về đền Hồng Sơn, từ đó đền còn thờ nhiều vị thần, thánh, trong đó lớn nhất phải kể đến: Vua Hùng Vương, Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo- người đã lãnh đạo nhân dân ta 3 lần đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông).

– Đền được xây dựng quy mô, bề thế trên một khu đất cao ráo nhìn ra sông Cửa Tiền theo hướng Đông Nam- Tây Bắc, có khuôn viên rộng rãi với những cây cổ thụ trầm mặc. – Trong những năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1964 – 1972) hạ điện bị bom Mỹ phá hỏng.Nhân dịp kỷ niệm 210 năm Phượng Hoàng Trung Đô Vinh (1998), hạ điện đã được trùng tu với quy mô lớn như ngày nay để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của khách thập phương và du khách đến tham quan.

– Ngày nay quy mô công trình bao gồm: Cổng đền, hồ bán nguyệt, nhà bia, tiền sảnh, tháp chuông, hạ điện, trung điện, thượng điện, tả vu, hữu vu.Ngoài ra còn có rất nhiều hành phi, đại tự, câu đối, những tượng cột với những nét chạm trổ tinh tế, sống động mà dấu sơn son thiếp vàng không hề bị mai một trước cái khắc nghiệt hàng trăm năm lịch sử với bao biến cố của thời cuộc.

– Đền Hồng Sơn là một di tích kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, mang đậm phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Nơi đây, còn lưu giữ được nhiều sưu tập tượng pháp, đồ tế khí rất có giá trị về lịch sử, văn học và tín ngưỡng. Hiện nay đền còn 19 hạng mục kiến trúc khá hoàn hảo thu hút khách thập phương đến lễ bái và vãn cảnh.

5.Xếp hạng di tích, danh thắng.

-Đền Hồng Sơn đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá năm 1984 theo quyết định số 114/QĐ-VH ngày 30/08/1984.

Di tích Cồn Mô

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Di tích Cồn Mô.

2. Địa chỉ.

– Phường Bến Thủy, tp Vinh, NA.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

Cồn Mô thuộc phường Bến Thuỷ – TP.Vinh – tỉnh Nghệ An. Di tích nằm về phía Đông Nam – thành phố Vinh, ở điểm giao nhau giữa đường thiên lý Bắc Nam, đường ven sông Lam.

Thời Pháp thuộc, Bến Thuỷ gọi là Yên Dũng Hạ, Đệ Thập, sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 gọi là xã Hưng Thuỷ, từ năm 1982 đến nay gọi là phường Bến Thuỷ. Trải qua các thời kỳ lịch sử, Bến Thuỷ chẳng những là vùng danh thắng non nước hữu tình mà còn là nơi trọng trấn, có vị trí chiến lược hàng đầu trên mảnh đất xứ Nghệ.

Trở về cội nguồn thế kỷ XI, Bến Thuỷ có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quốc gia phong kiến Đại Việt. Lý Nhật Quang, con trai thứ tám của vua Lý Thái Tổ đã lập ra nhiều đồn trại ở Nghệ An, trong đó có đồn trại Vĩnh Phong (Bến Thuỷ) là lớn hơn cả. Đến nay vẫn còn đền thờ Lý Nhật Quang ở vùng phía Bắc núi Quyết, gọi là Đền Cả. Núi Quyết, Núi Con Mèo (Kỳ Lân) và sông Lam là ba danh thắng của vùng đất này được quan hành khiển Nguyễn Trãi ghi vào sách “Dư địa chí”.

Từ thế kỷ XV trở đi, vùng đất xung quanh núi Quyết khá trầm uất, nhiều dòng họ từ các địa phương trong nước đã đến sinh cơ lập nghiệp ở đây. Do vị trí quan trọng của Bến Thuỷ, giữa thế kỷ XVI, nhà Lê đã cho dời dinh trấn thủ từ Lam Thành (Hưng Nguyên) về xây dựng tại Bến Thuỷ. Nhưng Bến Thuỷ chưa kịp khắc hoạ được một dấu ấn trong lịch sử về tầm vóc phát triển kinh tế, văn hoá…thì đã trở thành một bãi chiến trường tranh chấp quyền binh giữa các thế lực phong kiến Trịnh – Mạc (1570-1583), rồi tiếp đến Trịnh – Nguyễn (1627-1672).

Năm 1807, nhà Nguyễn dời trường thi hương từ Lam Thành (Hưng Nguyên) về dựng trên đất Yên Dũng Hạ. Cứ 3 năm một lần (không kể các kỳ ôn khoa), chính quyền phong kiến lại tổ chức một kỳ thi để chọn nhân tài. Con em của Yên Dũng Hạ tham dự các kỳ thi Hương có người đã đỗ Hương cống (cử nhân). Tính từ khoa thi năm Canh Tý 1840 đến khoa thi năm Kỷ Dậu 1909, Yên Dũng Hạ có 7 vị đỗ cử nhân.

Nhằm động viên tinh thần hiếu học đối với con em địa phương, hội Tư Văn và nhà Văn Thánh thờ Khổng Tử được ra đời. Bến Thuỷ là địa phương giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, đã có nhiều đóng góp to lớn vào sự nghiệp đánh giặc giữ nước. Theo gia phả họ Lê Viết ở làng Yên – Bến Thuỷ còn ghi lại tên tuổi những người trong họ đã có công lao với chúa Nguyễn, đó là: ông Doãn Toán – chánh độ trưởng ưu binh thời Lê Trịnh; ông Doãn Phòng là một vị tướng trong đội ưu binh của chúa Trịnh.

Trên con đường phát triển cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, Dũng Quyết- Bến Thuỷ một lần nữa lại nằm trong tầm nhìn chiến lược của nhà quân sự thiên tài Nguyễn Huệ – Quang Trung. Nguyễn Huệ đã chọn địa điểm này để xây dựng kinh đô mới của đất nước vào thế kỷ XVIII. Nhân dân Dũng Quyết đã góp nhiều công sức như chuyên chở gạch, ngói, đá….để xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô.

Năm 1885, thực dân Pháp đánh chiếm Nghệ An, Vinh – Bến Thuỷ nhanh chóng trở thành trung tâm công thương nghiệp của tư bản Pháp- các nhà máy: Diêm, Điện, cá hộp, nhà máy sửa chữa xe lửa, nhà máy gỗ…tập trung ở Vinh – Bến Thuỷ với lực lượng hàng ngàn công nhân làm việc trong các nhà máy. Đa số là nông dân bị tước ruộng đất cày cấy, phải bán sức lao động với giá rẻ mạt cho bọn chủ Pháp. Bọn chủ xưởng gọi lớp thợ này là “thợ áo nâu” để phân biệt với lớp thợ người Bắc kỳ. Dù có thời gian làm công trong nhà máy đến năm thứ 2, thứ 3, họ vẫn bị coi là thợ không chuyên nghiệp và bị bọn chủ ngược đãi. Do ở gần nhà máy, nên sau giờ làm việc, phần lớn người thợ Yên Dũng Hạ, Đệ Thập về sinh hoạt với gia đình. Bời vậy, ngoài ách áp bức của chủ xưởng, đốc công, cai ký, họ còn bị hương hào, lý dịch ở địa phương hà hiếp, đè nén…Trên vai họ, cùng một lúc bị hai tầng áp bức của tư bản Pháp và phong kiến làng xã.

Do những điều kiện đặc biệt ấy công nhân và nông dân Vinh – Bến Thuỷ có mối quan hệ mật thiết trong các cuộc đấu tranh chống thực dân phong kiến.

Năm 1904, bà con nông dân Yên Dũng Hạ, Đệ Thập đã nổi dậy phối hợp với nông dân huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) và khi khuân vác ở cảng Bến Thuỷ chống lại việc Rông-Cơ chiếm các bãi triền dọc sông Lam để tập kết lâm sản. Quyết liệt nhất vẫn là cuộc đấu tranh của nông dân Yên Dũng Hạ và Yên Dũng Thượng chống lại bọn Tư bản Pháp chiếm đất lập nhà máy Trường Thi (1904-1908), buộc bọn chủ nhà máy phải bồi thường thiệt hại cho công dân hai làng.

Kết quả phong trào đấu tranh đã tạo tiền đề cho việc ra đời các tổ chức Phục Việt, Thanh niên, Tân Việt

Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời do đồng chí Nguyễn Phong Sắc làm bí thư. Trụ sở đặt tại Vinh, đồng chí Lê Mao, Lê Viết Thuật là những người con Yên Dũng Hạ, Đệ Thập được bầu là uỷ viên Xứ uỷ Trung kỳ.

Cuối tháng 3 năm 1930, đồng chí Lê Mao được chỉ định làm Bí thư Tỉnh uỷ lâm thời Vinh – Bến Thuỷ, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Vinh – Bến Thuỷ và hai huyện Hưng Nguyên và Nghi Lộc.

Dưới sự lãnh đạo của tỉnh uỷ Vinh, các chi bộ cộng sản được hình thành trong các nhà máy, xí nghiệp và làng xã ở Vinh – Bến Thủy. Chiều ngày 15 tháng 1 năm 1930 gồm 300 công nhân các nhà máy cùng nông dân Yên Dũng Hạ, Đệ Thập tập trung tại Cồn Mô mít tinh do đồng chí Lê Mao chỉ đạo.

Ngày 20 tháng 1 năm 1930, cuộc mit tinh diễn thuyết lần thứ 2 diễn ra tại Cồn Mô gồm 700 người tham gia do đồng chí Nguyễn Phong Sắc chỉ đạo. Tiếp đó là các cuộc mit tinh, biểu tình của công nhân các nhà máy buộc chủ nhà máy phải giải quyết một số yêu sách của thợ.

Để ủng hộ công nhân các nhà máy đình công, tại Cồn Mô đã liên tục diễn ra các cuộc mit tinh, hội họp của quần chúng, vạch trần tội ác của bọn đế quốc, đồng thời đòi ngày làm 8 giờ, giảm sưu thuế và trả lại ruộng đất về tay dân cày.

Ngày 15 tháng 4 năm 1930, tại Cồn Mô diễn ra cuộc họp của Tỉnh uỷ Vinh – Bến Thuỷ gồm các đồng chí : Lê Mao, Lê Viết Thuật, Nguyễn Lợi, Nguyễn Phúc, Nguyễn Viết Lục, Lê Doãn Sửu…đồng chí Nguyễn Phong Sắc – uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư xứ uỷ Trung Kỳ về dự Hội nghị bàn về việc phát động cuộc biểu tình ngày quốc tế lao động 1-5-1930.

Từ tháng 4 năm 1930, không khí chuẩn bị cho cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân ở Vinh – Bến Thuỷ hết sức sôi động. Các địa điểm như: Cồn Mô, đình làng Bường, Đền Tam Toà, Đình Trung…nhân dân thường tập trung nghe cán bộ diễn thuyết, nhiều nơi xuất hiện truyền đơn kêu gọi đấu tranh kỷ niệm ngày 1-5-1930. Thông qua chị Vi Nình, chị Đoan, chị Bảy (giao thông của Xứ uỷ Trung kỳ) truyền đơn đã đến được các cơ sở vùng phụ cận Vinh – Bến Thuỷ, cờ đỏ búa liềm được cắm trên ngọn núi Quyết và các đình làng ở Bến Thuỷ.

Cao trào cách mạng 1930-1931, với đỉnh cao Xô Viết Nghệ Tĩnh được mở đầu bằng cuộc đấu tranh của công – nông Vinh – Bến Thuỷ, ngày 1-5-1930, đúng 5 giờ sáng, đội tự vệ được bố trí canh gác các ngả đường, sau tiếng trống lệnh từ trung tâm phát ra, cùng tiếng mõ, tiếng trống nhiều nơi trong vùng hưởng ứng. Nhân dân từ các ngả đường thuộc địa phận Bến Thuỷ nô nức đổ về tập trung tại Cồn Mô. Chị Nguyễn Thị Hạnh (công nhân nhà máy Diêm) đứng lên diễn thuyết, kêu gọi quần chúng đấu tranh nhân ngày kỷ niệm quốc tế lao động 1-5-1930. Sau đó đoàn biểu tình của các xã lân cận kéo đến nhập cùng đoàn Yên Dũng Hạ, Đệ Thập, Đệ Cửu…đưa yêu sách lên toà sứ Vinh. Hơn 1200 công nông Vinh – Bến Thuỷ xếp hàng dài hơn một cây số ào ạt diễu hành, lá cờ đỏ búa liềm được đồng chí Trần Cảnh Bình (người Lộc Đa) treo lên cột đèn ngã ba Bến Thuỷ. Hoảng sợ trước làn sóng biểu tình của quân chúng, kẻ thù dã man bắn vào đoàn biểu tình làm 7 người chết, 18 người bị thương và hơn 100 người bị bắt. Cồn Mô – Bến Thuỷ đã thấm đẫm máu đào của công nông Vinh – Bến Thuỷ.

Sau cuộc biểu tình ngày 1-5-1930, giặc Pháp và tay sai tăng cường truy lùng, bắt bớ những người tham gia biểu tình, chủ nhà máy sa thải hàng loạt thợ người Yên Dũng Hạ, Đệ Thập ra khỏi nhà máy, xí nghiệp. Trước tình hình đó, Xứ uỷ Trung kỳ đã kịp thời ra thông báo đặt trách nhiệm cho các cấp uỷ đảng vận động quần chúng đấu tranh đòi thực dân Pháp và tay sai “không được đụng đến công – nông Nghệ Tĩnh, không được đuổi công nhân phố Đệ Thập”.

Ngày 10 – 5-1930, anh chị em công nhân các nhà máy cùng nông dân Yên Dũng Hạ, Đệ Thập tập trung tại Cồn Mô mít tinh cổ vũ tinh thần đấu tranh của quần chúng.

Ngày 14 – 7-1930, nhân kỷ niệm công xã Pa –ri, hơn 600 nông dân Yên Dũng Hạ, Đệ Thập tập trung tại Cồn Mô mit tinh nghe cán bộ diễn thuyết.

Đầu năm 1931, thực dân Pháp và bọn tay sai khủng bố, tàn sát phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh rất dã man.

Ngày 30 tháng 4 năm 1931, vào lúc 9 giờ tối tổ Công hội đỏ Yên Dũng Hạ, Đệ Thập đang họp bàn kế hoạch đấu tranh ngày 1-5-1931 đã bị địch phục kích bao vây, chúng nã đạn vào Cồn Mô làm các đồng chí Lê Viết Cường, Nguyễn Khắc Huy, Cao Trọng Đìu, Lê Khắc Nhẫn, Đinh Văn Vỹ trúng đạn hy sinh ngay tại chỗ và một số người khác bị thương.

Trong cao trào Xô Viết 1930-1931, số đảng viên và quần chúng cách mạng ở Yên Dũng Hạ, Đệ Thập bị địch bắn chết 8 người, 81 người bị bắt, bị tra tấn tù đày, 3 người bị chết trong nhà tù đế quốc, 7 ngôi nhà bị đốt cháy.

Phát huy tinh thần cách mạng 1930- 1931 trong những năm 1936-1945 phong trào đấu tranh của nhân dân Yên Dũng Hạ, Đệ Thập vẫn tiếp tục phát triển.

Năm 1937 hàng nghìn dân cày Yên Dũng Hạ, Đệ Thập đã tập trung tại Cồn Mô đấu tranh bắt bọn chủ nhà máy Trường Thi hoàn lại 100 mẫu đất cho dân cày.

Trong những năm tiền khởi nghĩa các đội tự vệ, cảm tử các làng Yên Dũng Hạ, Đệ Thập đã chọn địa điểm Cồn Mô làm nơi luyện tập, học sinh kéo đến Cồn Mô may cờ đỏ sao vàng, mít tinh…Cồn Mô đã trở thành địa chỉ đỏ cách mạng của nhân dân Bến Thuỷ và các vùng lân cận trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Cồn Mô trước năm 1930 là một mô đất cao 4m với diện tích rộng 4,104 m­2, cây cối rậm rạp, xanh tốt.

Để ghi nhớ những chiến tích tại Cồn Mô, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Uỷ ban nhân dân thành phố Vinh đã ra quyết định số 1492/QĐUB ngày 3-1-1989 xây dựng tượng đài tại vị trí Cồn Mô, vật liệu xây dựng chủ yếu là gạch, xi măng và cát. Tượng đài cao 10 m, rộng 4m, trên cùng có biểu tượng hình cánh buồm mang ý nghĩa: “cánh buồm đưa con thuyền cách mạng tiến lên thắng lợi” trên có hình búa liềm, mặt trước của biểu tượng có hình trống Xô viết tượng trưng cho vũ khí đấu tranh của công – nông Vinh – Bến Thuỷ. Toàn bộ bệ tượng đài mỗi bên có 5 bậc tam cấp lên xuống. Xung quanh được xây hàng rào bảo vệ, có một cổng chính ra vào.

Hàng năm đến các ngày lễ lớn, UBND TP. Vinh và UBND phương Bến Thuỷ cùng nhân dân thành phố Vinh mang vòng hoa đến viếng, kính cẩn nghiêng mình trước đài tưởng niệm nhớ đến các chiến sỹ đã hy sinh và những sự kiện tiêu biểu trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Với ý nghĩa đó, tháng 2 năm 1997, Bộ Văn hoá Thông tin đã có quyết định công nhận Cồn Mô là một di tích lịch sử Văn hoá cấp quốc gia./.

4. Lễ hội.

5.Xếp hạng di tích, danh thắng.

– đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia năm 1997 theo quyết định số 423/QĐ-VH ngày 20/02/1997.

Đền Trìa

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

 Đền Trìa.

2. Địa chỉ.

– Xóm Hòa Tiến Xã Hưng Lộc, tp Vinh, NA.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

 Đền được xây dựng năm 1813. Đền còn có tên là đền Lộc.  Đền thờ các vị Thành hoàng làng đã có công trong công cuộc dựng nước và giữ nước.

 Đền gồm có ba gian: Thượng điện, trung điện và hạ điện. Hai bên là hai dãy nhà tả hữu, mỗi nhà có hai gian để tiếp khách, hiện chỉ còn thượng điện và hạ điện. Cổng đền có vòm cao và hai bên có rồng chầu nguyệt. Đền thờ một vị tướng có công trong sự nghiệp chống giặc Thanh được phong là Thượng Đẳng Thần.

 Ngôi đền trở là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của cư dân trong vùng. Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tại ngôi đền, bà con nhân dân đã tiễn chân hàng ngàn người con Lộc Đa – Đức Thịnh lên đường cứu nước theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Nơi đây đã diễn ra những cuộc họp bàn quan trọng của tổ chức cách mạng.Cũng chính tại đây, đền Trìa là chứng tích lịch sử ghi lại biết bao tội ác của kẻ thù đối với TP Vinh.

– Trong những năm kháng chiến đền bị hư hỏng nhiều. Năm 1991 đền được trùng tu, sửa chữa theo nguyên trạng nhưng cũng đã xuống cấp.Thể theo nguyện vọng của chính quyền và nhân dân xã Hưng Lộc, cũng như yêu cầu khách quan về giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống của các công trình kiến trúc, di tích, danh thắng trên địa bàn TP Vinh. Qua nhiều bước thẩm định của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Cục Di sản sản văn hóa, ngày 12/8/2009 UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định 3923 phê duyệt đầu tư trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa đền Trìa. Hiện nay, công trình được xây dựng, duy tu, tôn tạo với tổng diện tích sử dụng và khai thác là trên 560m2. Gồm các hạng mục như: phục hồi thượng điện, trung điện, hạ điện; nhà tả vu, hữu vu, cổng đền, bia dẫn tích, tường bao, sân đền và các công trình phụ trợ khác…Tổng đầu tư trùng tu, tôn tạo là 6,4 tỷ đồng. Điều đặc biệt, đây cũng là công trình được TP Vinh lựa chọn để chào mừng 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và kỷ niệm 80 năm Xô Viết Nghệ – Tĩnh.

4.Xếp hạng di tích, danh thắng.

– Đền Trìa đã được xếp hạng di tích lịch sử năm 1995 theo quyết định số 2233/QĐ-VH ngày 26/06/1995.

Nhà máy điện Vinh

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Nhà máy điện Vinh.

2. Địa chỉ.

– Phường Bến Thủy- Tp Vinh – NA.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Có dịp ghé thăm Nghệ An – quê Bác, đi trên quốc lộ 1A, tới phía bắc đầu cầu Bến Thuỷ – ta sẽ thấy một ống khói to cao sừng sững cạnh chân núi Dũng Quyết. Đó chính là chứng tích còn lại của Nhà máy điện Vinh. Ngày 13/6/2007, Bộ Văn hoá Thông tin ban hành Quyết định số 16/2007/QĐ -BVHTT xếp hạng Nhà máy điện Vinh là di tích lịch sử quốc gia.

– Nhà máy điện Vinh được khởi công xây dựng vào ngày 1/6/1956 trên chính mảnh đất Nhà máy điện SIFA anh hùng năm xưa với cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp. Đây là công sức và tâm huyết của hàng ngàn cán bộ, công nhân viên, bộ đội, những người thợ lắp máy cùng với các chuyên gia Liên Xô đã không quản ngày đêm lao động trên công trường. Ngày 15/6/1957, một vinh dự lớn đến cán bộ công nhân viên công trường xây dựng Nhà máy điện Vinh là được đón Bác Hồ kính yêu về thăm. Bác căn dặn: “Các cô, các chú được giao quản lý tài sản quý báu này. Các cô, các chú hãy cố gắng lên, đừng để cảnh nghèo nàn lạc hậu trở lại trên quê hương Xô Viết Nghệ Tĩnh chúng ta”. Cả công trường xây dựng Nhà máy điện Vinh như được tiếp thêm sức mạnh, phong trào thi đua diễn ra sôi nổi khắp nơi, và đến tháng 6/1958 thì Nhà máy được khánh thành.

– Với công suất 8.000 KW, Nhà máy nhiệt điện đã chính thức đi vào sản xuất theo kế hoạch, cung cấp điện phục vụ cho phát triển công nghiệp, nông nghiệp, quốc phòng và đời sống nhân dân của 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Thời điểm lúc bấy giờ, Nhà máy điện Vinh là một trong những cái nôi của phong trào vận hành an toàn của toàn ngành Điện lực miền Bắc. Nhà máy cũng là nơi đào tạo cung cấp cho ngành Điện và các ngành khác nhiều cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật nòng cốt.

– Trong suốt 10 năm chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, Nhà máy điện Vinh là một trong những mục tiêu đánh phá ác liệt nhất. Kẻ thù đã đánh vào Nhà máy trên 300 trận với 2.319 quả bom các loại, 149 quả tên lửa, 64 quả đại bác… Nhà máy đã phải khôi phục lại tới 26 lần. Nhưng “Địch đánh ta phục hồi, địch lại đánh ta lại phục hồi, bám trụ kiên cường, thề quyết tử cho dòng điện quyết sinh”; “ống khói chính đổ, ta làm ống khói bằng tôn, ống khói bằng tôn đổ ta làm đường khói ngầm”… Đó là những khẩu hiệu hành động của tập thể công nhân Nhà máy điện Vinh. Nó thực sự trở thành niềm tin, niềm kiêu hãnh của những người thợ điện trên quê Bác, xứng đang với lá cờ thêu 12 chữ vàng Chiến đấu dũng cảm, lao động sáng tạo, chiến thắng vẻ vang do Liên hiệp Công đoàn Nghệ An tặng.

– Đương đầu với bom đạn giặc Mỹ, cán bộ công nhân Nhà máy điện Vinh đã phát huy truyền thống anh dũng của người thợ điện trên quê hương Xô Viết Nghệ Tĩnh kiên cường. Những người thợ điện Vinh với tấm lòng quả cảm, mưu trí, sáng tạo, đổ bao nhiêu mồ hôi công sức, trong đó có cả máu xương của đồng chí, đồng đội, giành giật với kẻ thù, sản xuất ra từng kWh điện, để “dòng điện không bao giờ tắt trên quê hương Xô Viết Nghệ Tĩnh.. Ngày 4/6/1965, đối với Nhà máy điện Vinh là một ngày không thể nào quên, máy bay địch ập tới ném bom xối xả vào Nhà máy, 8 đồng chí cán bộ công nhân đã hy sinh ngay tại nơi đang làm việc.

– Nhà máy điện Vinh đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương là đơn vị Anh hùng (năm 1967, tại Đại hội Liên hoan Anh hùng và Chiến sĩ thi đua chống Mỹ cứu nước), tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho 2 đồng chí là Huỳnh Ngọc Đủ, Trương Quang Thâm và 30 huân chương các loại. Có 5 đồng chí là CBCNV Nhà máy đã trúng cử đại biểu Quốc hội qua các nhiệm kỳ. Để ca ngợi những thành tích đó, Xưởng phim tài liệu Việt Nam đã xây dựng bộ phim “Dòng điện không bao giờ tắt..

T- háng 10/1985, Nhà máy điện Vinh ngừng hoạt động do nguồn điện ở phía Bắc được tăng cường (Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại hoà vào lưới). Sau gần 28 năm vận hành phát điện, qua bao thời kỳ thăng trầm, đổi thay, Nhà máy điện Vinh đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Là chứng tích lịch sử của một đơn vị sản xuất, mà tên tuổi đã đi vào lịch sử của dân tộc, của ngành Điện Việt Nam, đó là Nhà máy điện Vinh anh hùng.

– Ý thức được giá trị, ý nghĩa lịch sử của Nhà máy, trong suốt thời gian qua, Điện lực Nghệ An đã luôn quan tâm bảo vệ địa điểm di tích này. Bên cạnh việc giữ nguyên một phần mặt bằng Nhà máy trước đây, Điện lực Nghệ An còn bảo tồn và tôn tạo một số hạng mục trên nền đất cũ của Nhà máy như ống khói, trung tâm điều hành sản xuất lò máy Liên Xô (cũ), hệ thống hang hầm trong lòng núi Dũng Quyết (hang D6) và rất nhiều hiện vật được lưu giữ tại phòng Truyền thống. Cứ vào ngày 4 tháng 6 hằng năm, Điện lực Nghệ An đều tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm các liệt sỹ đã anh dũng hy sinh vì dòng điện không bao giờ tắt trên quê hương Xô Viết.

5.Xếp hạng di tích, danh thắng.

– Nhà máy điện Vinh đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia năm 1997 theo quyết định số 423/QĐ-VH ngày 20/02/1997.

Ngã ba Bến Thủy

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Ngã ba Bến Thủy- địa điểm đấu tranh của công nông ngày 1/5/1930

2. Địa chỉ.

-Di tích Ngã ba Bến Thuỷ nằm bên tả ngạn sông Lam, dưới chân núi Quyết; cách trung tâm thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 5 km về phía Đông Nam.

-Ngã ba Bến Thuỷ trước đây thuộc làng Yên Dũng Hạ, tổng Yên Trường, huyện Hưng Nguyên; nay thuộc phường Bến Thuỷ, thành phố Vinh. Di tích có diện tích 5.000 m2 sát dưới chân núi Quyết, một vùng đất có vị trí quan trọng; nơi mà Vua Quang Trung Nguyễn Huệ chọn để xây dựng thành Phượng Hoàng Trung Đô(năm 1788).

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Những năm đầu thế kỷ XX, Vinh-Bến Thuỷ là một trung tâm công nghiệp lớn ở Bắc Trung Kỳ. Hàng loạt nhà máy mọc lên: Nhà máy cá hộp, Nhà máy sửa chữa xe lửa Trường Thi, Nhà máy Diêm Bến Thuỷ… Các công xưởng ra đời đã thu hút hàng nghìn công nhân mà phần đông là nông dân các vùng lân cận bị phá sản, bị tước đoạt ruộng đất phải vào đây bán rẻ sức lao động.

Đời sống của người thợ hết sức bấp bênh, làm việc theo thời hạn nhất định, theo mùa vụ, vì vậy họ có mối quan hệ hết sức chặt chẽ. Do bị áp bức nặng nề, phong trào đấu tranh của công nhân Vinh-Bến Thuỷ đã liên kết được với phong trào nông dân các làng xung quanh.

Đặc biệt, sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh bộ lâm thời Vinh-Bến Thuỷ phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Tầng lớp công-nông ở các vùng phụ cận thường tập trung tại Cồn Mô nghe diễn thuyết, rải truyền đơn, thực hiện các cuộc biểu tình, đình công. Cồn Mô trở thành nơi hội họp của các tổ chức cách mạng, là địa chỉ đỏ trong phong trào đấu tranh thời kỳ này.

Dưới sự lãnh đạo của xứ uỷ Trung Kỳ, rạng ngày 1/5/1930, hơn 1.200 nông dân các làng Ân Hậu, Tân Hợp, Đức Hậu (Nghi Lộc), Lộc Đa, Lộc Thịnh, Yên Dũng thượng (Phủ Hưng Nguyên)…kéo về phía Nhà máy Trường Thi biểu tình. Bị bọn địch cấm cổng không cho tham gia biểu tình, một số anh em công nhân Nhà máy Trường Thi vượt tường ra ngoài và gia nhập đoàn. Đoàn biểu tình vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu: Tăng tiền lương, ngày làm 8 giờ, giảm các loại sưu thuế, ủng hộ Xô Nga… và đọc to bài “Quốc tế ca”. Sau đó, đoàn kéo xuống ngã ba Nhà máy Diêm thì bị lính khố xanh và mật thám chặn đường. Nhưng đoàn người với khí thế sục sôi vẫn tay không tiến vào hàng rào lính, tên giám binh hốt hoảng ra lệnh cho lính bắn vào đoàn biểu tình.

Một số đồng chí trong đoàn biểu tình bị trọng thương khiến mọi người sục sôi căm thù, đồng chí Trần Cảnh Bình (tự vệ làng Lộc Đa) treo lên cột điện trước Nhà máy Diêm giương cao cờ đỏ búa liềm kêu gọi công nhân nhà máy ra ứng cứu. Bọn lính từ tầng hai nhà máy bắn xối xả vào cột đèn, đồng chí Trần Cảnh Bình cùng lá cờ đỏ rơi xuống trong tiếng thét căm hờn của đoàn người biểu tình. Công nhân Nhà máy Diêm tràn ra sát cổng, đạp phăng hàng rào ứng cứu. Bọn lính bắn thẳng vào đoàn biểu tình làm 6 người chết, 18 người bị thương và 100 người bị bắt.

Cuộc biểu tình ngày 1/05 tại ngã ba Bến Thuỷ là điểm mốc quan trọng mở đầu cho cao trào Xô viết Nghệ – Tĩnh, là hình ảnh xúc động của tình đoàn kết công-nông: “Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng xứ ta, công-nông-binh bắt tay nhau giữa trận tiền” (Trích Báo “Người cùng khổ” ngày 2/05/1930).Và truyền thống kiên cường, bất khuất đó được kế tục trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, nhiều đơn vị và cá nhân được phong tặng danh hiệu anh hùng như: đội phà Bến Thuỷ, Nhà máy Điện Vinh, Cảng Bến Thuỷ…

Qua thời gian và chiến tranh tàn phá, cảnh vật thay đổi, cột điện lịch sử đã không còn nữa. Nhưng tại đây, ngay dưới chân núi Quyết, ở điểm giao nhau giữa đường thiên lý Bắc-Nam và đường ven sông Lam, tượng đài Công-Nông-Binh được xây dựng lên để tưởng nhớ cha ông một thời oanh liệt.Với chiều cao 10m, rộng 16,2m, trên tượng đài khắc biểu tượng búa liềm, mặt trước gắn biểu tượng trống Xô Viết, trên nền bia ghi lại những sự kiện lịch sử diễn ra ở Cồn Mô.

Dự án Khu di tích ngã ba Bến Thủy cũng đã được quy hoạch lại với diện tích là 35.500m2 bao gồm nhiều hạng mục như phục hồi cột đèn lịch sử-di tịch thời chống Pháp, xây dựng mới tượng đài – biểu tượng cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, bia ghi dấu sự kiện, sân hành lễ và đường dạo bộ hai bên tượng đài…Dự án này sẽ được chia làm 2 giai đoạn để thực hiện, bắt đầu từ 2010 và kết thúc năm 2015.

Hiện tại di tích này đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia.Hằng năm, trong các ngày lễ kỷ niệm của đất nước, Đảng, chính quyền và nhân dân TP.Vinh lại đến đây dâng hoa, dâng hương tưởng niệm các chiến sỹ đã hi sinh và ôn lại những sự kiện tiêu biểu trong phong trào Xô viết Nghệ – Tĩnh.

4.Xếp hạng di tích, danh thắng.

– Ngã ba Bến Thủy đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá theo quyết định số 1288/QĐ-VH ngày 16/11/1988 của Bộ Văn hóa thông tin.

Thành phố Vinh- trái tim xứ Nghệ

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Thành phố Vinh.

2. Địa chỉ.

– Tỉnh lỵ của Nghệ An.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Ngay từ thời sơ khai của đất nước, Vinh đã là địa bàn thích hợp cho sự dừng chân và tụ cư của con người. Các nhà khảo cổ học đã chứng minh điều đó bằng các kết quả khai quật và nghiên cứu. Trải qua biến thiên của lịch sử, vị trí của Vinh ngày càng quan trọng hơn, vì nó nằm trên con đường thiên lý xuyên Việt trong quá trình mở mang bờ cõi của tổ tiên ta. Rồi đến một ngày cuối năm 1788, dưới con mắt của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ – Hoàng đế Quang Trung, Vinh bỗng hiện ra: “Hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng, có thể chọn để xây kinh đô mới. Thật là chỗ đẹp để đóng đô vâỵ” (thư Nguyễn Huệ gửi Nguyễn Thiếp để nhờ chọn đất đóng đô). Và, Vinh đã trở thành Phượng Hoàng Trung Đô. Dù rằng, chưa được xây dựng hoàn tất do sự nghiệp nhà Tây Sơn quá ngắn ngủi, nhưng Phượng Hoàng Trung Đô là một dấu son chói lọi trên chặng đường phát triển của đô thị Vinh.

 – Dưới thời thuộc Pháp, người Pháp đã sớm nhận ra vị trí đắc địa của Vinh và cho xây dựng Vinh thành một trong những đô thị công nghiệp vào loại lớn trong cả nước. Cuối những năm 20, đầu những năm 30 của thể kỷ trước, Vinh được biết đến như một đô thị với những nhà máy, xí nghiệp, bến cảng, hãng buôn, nhà băng… nổi tiếng của người Pháp, Hoa Kiều, Ấn Kiều… Vinh cũng là thành phố của thợ thuyền với hàng vạn công nhân. Đó cũng là cái nôi của phong trào yêu nước và cách mạng. ” Kìa Bến Thuỷ đứng đầu dậy trước…” Cao trào cách mạng 1930 – 1931 Xô Viết – Nghệ Tĩnh được châm ngòi từ đây. Không chỉ nổi tiếng là thành phố giàu truyền thống lịch sử và cách mạng, Thành phố Đỏ anh hùng, Vinh như nó đã từng, còn được biết đến là một thành phố công nghiệp và thương mại. Hơn nữa Vinh là nơi hội tụ tinh hoa văn hoá xứ Nghệ và sớm hình thành những giá trị của văn hoá đô thị. Thế nhưng, thành phố thơ mộng, thành phố có núi, ven bờ dòng sông Lam đã hai lần bị san phẳng. Lần thứ nhất là tiêu thổ kháng chiến khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1947); lần thứ hai là chiến thanh phá hoại của đế quốc Mỹ (1964 – 1972). Nhưng, từ trong hoang tàn đổ nát của chiến tranh Vinh “đã thấy sắc hồng cười trong gạch vụn” (thơ Thạch Quỳ)

– Thành phố Vinh thuộc vùng kẻ Vang hoặc kẻ Vịnh ngày xưa. Chữ Vinh là gọi chệch từ chữ Vịnh. Cách đây hàng ngàn năm, người Việt cổ đã sinh sống trên vùng đất này khá đông đúc. Việc tìm thấy hai trống đồng thuộc thời đại Hùng Vương (cách đây 4.000 năm) dưới chân núi Quyết mà hiện nay đang lưu giữ tại Bảo tàng tổng hợp Nghệ An đã chứng minh điều đó.

– Là vùng đất có núi bao bọc lại nằm cạnh Biển Đông, Vinh có một vị trí đặc biệt. Các Vua Đinh, Lê, Lý, Trần đều chú ý đến Vinh và đã cử các tướng tài vào đây trấn giữ. Nhưng đến thế kỷ XV dưới thời Lê Lợi và Nguyễn Trãi thì vùng Vinh mới thực sự được quan tâm đặc biệt. Trong sách “Dư địa chí” Nguyễn Trãi cho rằng đây là vung đất hội tụ khí thiêng sông núi xứ Nghệ. Vì vậy năm 1428, sau khi chiến thắng giặc Minh, Lê Lợi đã cử ngay vị tướng tài là Đinh Quốc Công Thần Nguyễn Xí vào đóng đại bản doanh ở Vinh.

– Thế kỷ XVII thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, Ninh Quận Công Trịnh Toàn nhiều năm đã đóng đại bản doanh ở Núi Quyết. Huy động nhân dân và binh lính xây thành ông Ninh và đào kênh nối sông Cồn Mộc (tức sông Vinh) với sông Lam.

– Năm 1786, sau khi đập tan quân Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc dẹp Chúa Trịnh đã bỏ đường Thượng đạo mà đi theo đường Gián đạo (qua khe Bãi Vọt sang Lam Thành) đã phát hiện vùng đất Yên Trường (Vinh bây giờ). Sau khi dẹp tan quân Trịnh, thống nhất đất nước, Nguyễn Huệ đã nghĩ ngay đến việc tìm một vùng đóng đô khác mà có thể khống chế được cả trong Nam, ngoài Bắc. Đầu tiên ông định chọn vùng Phù Thanh (phía dưới núi Thành ven sông Lam) nhưng thấy vùng đất này thường hay bị lũ lụt làm sạt lở, cho nên ngày 03/09 năm Thái Đức XI (tức ngày 01/10/1788) Quang Trung viết chiếu gửi cho Nguyễn Thiếp chọn Yên Trường xây dựng kinh đô. La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đến vùng Yên Trường thị sát chọn vùng đất giữa núi Quyết và núi con Mèo (Kỳ lân) vì thấy nơi đây là đất “thiêng” hội tụ đầy đủ bốn con vật thiêng mà cha ông đã ngàn đời tôn vinh thờ cúng là: long – ly – quy – phượng để xây thành gọi là thành Phượng Hoàng Trung Đô.

– Phượng Hoàng Trung Đô có 2 lần thành gọi là thành Nội và thành Ngoại hình thang, chu vi dài 2820m; diện tích: 22 ha. Phía ngoài có hào rộng 3m, sâu 3m thành cao 3 – 4 m. Thành nội xây bằng gạch vồ và đá ong, chu vi gần 1680 m cao 2m, cửa lớn mở ra hai hướng tây và đông. Trong thành nội có toà lầu rộng, cao 3 tầng, trước có bậc tam cấp bằng đá ong, sau có hai dãy hành lang nối liền với điện Thái hoà dùng cho việc thiết triều. Sách “La Sơn phu tử” nói rõ thêm: Núi Mèo (tức Kỳ Lân) làm nền cho đồn gác, thành phía Nam chấp vào núi ấy. Mặt đông bắc lấy núi Quyết (Phượng Hoàng) làm thành. Cũng theo sách “La Sơn phu tử”, về kích thước của thành Ngoại, ngoài các vách núi làm bức luỹ tự nhiên, còn phải đắp bờ thành nam dài 300m, bờ thành tây dài 450m. Bề đứng ở những đoạn phải đắp thì cũng rất cao vì để hài hoà với vách núi.Đúng là vua Quang Trung đã ngự triều ở đây. Trong thư gửi Nguyễn Thiếp (03/10/1789), nhà vua viết: “Trẫm nay đóng đô tại Nghệ An, cùng tiên sinh gần gũi. Rồi đây, Tiên sinh hãy ra đây giúp nhau mà trị nước”. Kinh đô ở Yên Trường tuy còn sơ sài nhưng thực sự đã được xây dựng. Lấy tên là Phượng Hoàng Trung Đô.Nhưng sự nghiệp nhà Tây Sơn quá ngắn ngủi. Sau khi vua Quang Trung băng hà, Quang Toản lên ngôi không chèo chống nổi cơ đồ trước lực lượng phục thù của Nguyễn Ánh có tư bản Pháp giúp sức. Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long đã huỷ bỏ không thương tiếc bất cứ cái gì triều Tây Sơn tạo dựng. Lên ngôi năm trước thì năm sau (803) Gia Long cho xây ở Yên Trường đình Hội Đồng và cho trùng tu nâng cấp nhà Văn Thánh, cho xây Trường Thi Hương. Sau đó, năm Giáp Tý (1804) Gia Long ra chỉ dụ cho dời trấn Nghệ An về đóng tại làng Vĩnh Yên, tức Vĩnh Thành. Ban đầu thành chỉ đắp bằng đất, năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) mới được xây bằng đá theo kiểu vô băng. Đến thời Tự Đức (1847-1883) được sửa sang lại.

– Vĩnh Thành (thành phố Vinh ngày nay) là nơi hội tụ khí thiêng sông núi (như Nguyễn Trãi nhận định), hội tụ triết lý nhân văn. Đó là đặc điểm có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của đô thị Vinh sau này. Đô thị Vinh lớn về tầm, về thế, vì nó có Bến Thuỷ, lấy tên gọi từ một đồn Thuỷ dưới thời Lê. Về tên gọi “Vinh” nguyên do là do con sông Vĩnh Giang (sông Vinh ngày nay) chảy cạnh thành phố, tiếng Latinh không dùng dấu thanh điệu nên “Vĩnh” hay “Vịnh” được biến thành “Vinh”.

– Triều đình Nhà Nguyễn thối nát đầu hàng thực dân Pháp, ngày 20 tháng 7 năm 1885, Sa – mông (Chaumout) đổ bộ 188 lính Pháp lên Bến Thuỷ hợp lực với Mi – nhô (Mignot) từ Hà Nội vào và Bec-tơ-nô (Bretnaut) từ Hà Tĩnh ra chiếm Vinh – Bến Thuỷ rồi mở rộng ra cả Nghệ – Tĩnh. Các nhà doanh nghiệp đã dựa vào lưỡi lê và họng súng đặt tại Bến Thuỷ cơ sở đầu tiên của nền thương mại tư bản: Cửa hàng thu mua gỗ; dựng ở Bến Thuỷ, Trường Thi những cơ sở sản xuất công nghiệp: nhà máy diêm, nhà máy chế biến gỗ, nhà máy điện, nhà máy xe lửa, cảng sông… Các nhà máy, cơ sở thương mại mọc lên ngày càng nhiều, Vinh – Bến Thuỷ trở thành một trung tâm công nghiệp lớn của Bắc Miền Trung.

– Đồng thời với việc mở mang khu công nghiệp, kinh doanh, thương mại là chính sách khai thác vơ vét thuộc địa và sự cai trị hà khắc. Những người lao động làm thuê bị bóc lột nặng nề. Họ đã sát cánh bên nhau vùng lên tranh đấu. Lúc này một số thanh niên tân học yêu nước, một số cựu chính trị phạm từ Côn Đảo về đã họp tại núi Con Mèo tuyên bố thành lập Hội Phục Việt (sau này đổi tên là Đảng Tân Việt). Đây là tổ chức cách mạng ra đời sớm nhất ở Việt Nam. Hội Phục Việt đã gây được ảnh hưởng trong công nhân, học sinh, dân nghèo thành thị và một số vùng nông thôn lân cận.

– Mùa hè năm 1929, những phần tử tích cực trong Hội Thanh niên tách khỏi cơ quan Tổng bộ của họ ở Quảng Châu (Trung Quốc) về nước phát tuyên ngôn lập ra Đông Dương cộng sản đảng (17/6/1929). Tháng 9 năm 1929, Nguyễn Phong Sắc (tức Thịnh) uỷ viên Trung ương kiêm bí thư xứ uỷ Trung Kì lâm thời Đông Dương cộng sản Đảng vào Vinh cùng Trần Văn Cung (uỷ viên chấp hành xứ uỷ lâm thời) chỉ đạo phong trào ở Vinh – Bến Thuỷ, vận động thống nhất các tổ chức cộng sản vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 20 tháng 3 năm 1930, tại Vinh, xứ uỷ tổ chức họp bầu ra Ban chấp hành tỉnh bộ Nghệ An đồng thời cũng bầu ra ban chấp hành Tỉnh bộ Đảng cộng sản Việt Nam thành phố Vinh – Bến Thuỷ, thực chất Tỉnh bộ này là Thành uỷ Vinh – Bến Thuỷ. Tỉnh bộ Vinh đã chỉ đạo phát triển được nhiều chi bộ Đảng ở các nhà máy, phường, xã lân cận, lãnh đạo công nhân đi từ đấu tranh tự phát lên đấu tranh tự giác mà đỉnh cao là cao trào Xô Viết Nghệ – Tĩnh 1930 – 1931, gắn với cuộc biểu tình 01/05/1930 lịch sử. Cùng với các chi bộ Đảng, các tổ chức mang biệt danh “Đỏ”: Công Hội đỏ, nông hội đỏ, xích vệ đỏ, rồi làng đỏ (Yên Dũng). Thành phố Vinh mãi mãi rạng danh với tên gọi Thành phố Đỏ huy hoàng.

 Cuộc biểu tình 1-5 bị dìm trong bể máu, phong trào Xô Viết tạm lắng xuống, nhưng ngọn lửa quật khởi của nó thì mãi mãi cháy sáng trong lòng người dân Thành phố Đỏ, họ hăng hái tập hợp quanh lá cờ Đảng, Mặt trận Việt Minh vùng lên khởi nghĩa cướp chính quyền ngày 21 tháng 8 năm 1945, rồi hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch ngày 7 tháng 2 năm 1947, tiêu thổ để kháng chiến và góp phần to lớn vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ sau này.

Thành phố Vinh- trái tim xứ Nghệ

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Thành phố Vinh.

2. Địa chỉ.

– Tỉnh lỵ của Nghệ An.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Ngay từ thời sơ khai của đất nước, Vinh đã là địa bàn thích hợp cho sự dừng chân và tụ cư của con người. Các nhà khảo cổ học đã chứng minh điều đó bằng các kết quả khai quật và nghiên cứu. Trải qua biến thiên của lịch sử, vị trí của Vinh ngày càng quan trọng hơn, vì nó nằm trên con đường thiên lý xuyên Việt trong quá trình mở mang bờ cõi của tổ tiên ta. Rồi đến một ngày cuối năm 1788, dưới con mắt của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ – Hoàng đế Quang Trung, Vinh bỗng hiện ra: “Hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng, có thể chọn để xây kinh đô mới. Thật là chỗ đẹp để đóng đô vâỵ” (thư Nguyễn Huệ gửi Nguyễn Thiếp để nhờ chọn đất đóng đô). Và, Vinh đã trở thành Phượng Hoàng Trung Đô. Dù rằng, chưa được xây dựng hoàn tất do sự nghiệp nhà Tây Sơn quá ngắn ngủi, nhưng Phượng Hoàng Trung Đô là một dấu son chói lọi trên chặng đường phát triển của đô thị Vinh.

 – Dưới thời thuộc Pháp, người Pháp đã sớm nhận ra vị trí đắc địa của Vinh và cho xây dựng Vinh thành một trong những đô thị công nghiệp vào loại lớn trong cả nước. Cuối những năm 20, đầu những năm 30 của thể kỷ trước, Vinh được biết đến như một đô thị với những nhà máy, xí nghiệp, bến cảng, hãng buôn, nhà băng… nổi tiếng của người Pháp, Hoa Kiều, Ấn Kiều… Vinh cũng là thành phố của thợ thuyền với hàng vạn công nhân. Đó cũng là cái nôi của phong trào yêu nước và cách mạng. ” Kìa Bến Thuỷ đứng đầu dậy trước…” Cao trào cách mạng 1930 – 1931 Xô Viết – Nghệ Tĩnh được châm ngòi từ đây. Không chỉ nổi tiếng là thành phố giàu truyền thống lịch sử và cách mạng, Thành phố Đỏ anh hùng, Vinh như nó đã từng, còn được biết đến là một thành phố công nghiệp và thương mại. Hơn nữa Vinh là nơi hội tụ tinh hoa văn hoá xứ Nghệ và sớm hình thành những giá trị của văn hoá đô thị. Thế nhưng, thành phố thơ mộng, thành phố có núi, ven bờ dòng sông Lam đã hai lần bị san phẳng. Lần thứ nhất là tiêu thổ kháng chiến khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1947); lần thứ hai là chiến thanh phá hoại của đế quốc Mỹ (1964 – 1972). Nhưng, từ trong hoang tàn đổ nát của chiến tranh Vinh “đã thấy sắc hồng cười trong gạch vụn” (thơ Thạch Quỳ)

– Thành phố Vinh thuộc vùng kẻ Vang hoặc kẻ Vịnh ngày xưa. Chữ Vinh là gọi chệch từ chữ Vịnh. Cách đây hàng ngàn năm, người Việt cổ đã sinh sống trên vùng đất này khá đông đúc. Việc tìm thấy hai trống đồng thuộc thời đại Hùng Vương (cách đây 4.000 năm) dưới chân núi Quyết mà hiện nay đang lưu giữ tại Bảo tàng tổng hợp Nghệ An đã chứng minh điều đó.

– Là vùng đất có núi bao bọc lại nằm cạnh Biển Đông, Vinh có một vị trí đặc biệt. Các Vua Đinh, Lê, Lý, Trần đều chú ý đến Vinh và đã cử các tướng tài vào đây trấn giữ. Nhưng đến thế kỷ XV dưới thời Lê Lợi và Nguyễn Trãi thì vùng Vinh mới thực sự được quan tâm đặc biệt. Trong sách “Dư địa chí” Nguyễn Trãi cho rằng đây là vung đất hội tụ khí thiêng sông núi xứ Nghệ. Vì vậy năm 1428, sau khi chiến thắng giặc Minh, Lê Lợi đã cử ngay vị tướng tài là Đinh Quốc Công Thần Nguyễn Xí vào đóng đại bản doanh ở Vinh.

– Thế kỷ XVII thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, Ninh Quận Công Trịnh Toàn nhiều năm đã đóng đại bản doanh ở Núi Quyết. Huy động nhân dân và binh lính xây thành ông Ninh và đào kênh nối sông Cồn Mộc (tức sông Vinh) với sông Lam.

– Năm 1786, sau khi đập tan quân Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc dẹp Chúa Trịnh đã bỏ đường Thượng đạo mà đi theo đường Gián đạo (qua khe Bãi Vọt sang Lam Thành) đã phát hiện vùng đất Yên Trường (Vinh bây giờ). Sau khi dẹp tan quân Trịnh, thống nhất đất nước, Nguyễn Huệ đã nghĩ ngay đến việc tìm một vùng đóng đô khác mà có thể khống chế được cả trong Nam, ngoài Bắc. Đầu tiên ông định chọn vùng Phù Thanh (phía dưới núi Thành ven sông Lam) nhưng thấy vùng đất này thường hay bị lũ lụt làm sạt lở, cho nên ngày 03/09 năm Thái Đức XI (tức ngày 01/10/1788) Quang Trung viết chiếu gửi cho Nguyễn Thiếp chọn Yên Trường xây dựng kinh đô. La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đến vùng Yên Trường thị sát chọn vùng đất giữa núi Quyết và núi con Mèo (Kỳ lân) vì thấy nơi đây là đất “thiêng” hội tụ đầy đủ bốn con vật thiêng mà cha ông đã ngàn đời tôn vinh thờ cúng là: long – ly – quy – phượng để xây thành gọi là thành Phượng Hoàng Trung Đô.

– Phượng Hoàng Trung Đô có 2 lần thành gọi là thành Nội và thành Ngoại hình thang, chu vi dài 2820m; diện tích: 22 ha. Phía ngoài có hào rộng 3m, sâu 3m thành cao 3 – 4 m. Thành nội xây bằng gạch vồ và đá ong, chu vi gần 1680 m cao 2m, cửa lớn mở ra hai hướng tây và đông. Trong thành nội có toà lầu rộng, cao 3 tầng, trước có bậc tam cấp bằng đá ong, sau có hai dãy hành lang nối liền với điện Thái hoà dùng cho việc thiết triều. Sách “La Sơn phu tử” nói rõ thêm: Núi Mèo (tức Kỳ Lân) làm nền cho đồn gác, thành phía Nam chấp vào núi ấy. Mặt đông bắc lấy núi Quyết (Phượng Hoàng) làm thành. Cũng theo sách “La Sơn phu tử”, về kích thước của thành Ngoại, ngoài các vách núi làm bức luỹ tự nhiên, còn phải đắp bờ thành nam dài 300m, bờ thành tây dài 450m. Bề đứng ở những đoạn phải đắp thì cũng rất cao vì để hài hoà với vách núi.Đúng là vua Quang Trung đã ngự triều ở đây. Trong thư gửi Nguyễn Thiếp (03/10/1789), nhà vua viết: “Trẫm nay đóng đô tại Nghệ An, cùng tiên sinh gần gũi. Rồi đây, Tiên sinh hãy ra đây giúp nhau mà trị nước”. Kinh đô ở Yên Trường tuy còn sơ sài nhưng thực sự đã được xây dựng. Lấy tên là Phượng Hoàng Trung Đô.Nhưng sự nghiệp nhà Tây Sơn quá ngắn ngủi. Sau khi vua Quang Trung băng hà, Quang Toản lên ngôi không chèo chống nổi cơ đồ trước lực lượng phục thù của Nguyễn Ánh có tư bản Pháp giúp sức. Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long đã huỷ bỏ không thương tiếc bất cứ cái gì triều Tây Sơn tạo dựng. Lên ngôi năm trước thì năm sau (803) Gia Long cho xây ở Yên Trường đình Hội Đồng và cho trùng tu nâng cấp nhà Văn Thánh, cho xây Trường Thi Hương. Sau đó, năm Giáp Tý (1804) Gia Long ra chỉ dụ cho dời trấn Nghệ An về đóng tại làng Vĩnh Yên, tức Vĩnh Thành. Ban đầu thành chỉ đắp bằng đất, năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) mới được xây bằng đá theo kiểu vô băng. Đến thời Tự Đức (1847-1883) được sửa sang lại.

– Vĩnh Thành (thành phố Vinh ngày nay) là nơi hội tụ khí thiêng sông núi (như Nguyễn Trãi nhận định), hội tụ triết lý nhân văn. Đó là đặc điểm có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của đô thị Vinh sau này. Đô thị Vinh lớn về tầm, về thế, vì nó có Bến Thuỷ, lấy tên gọi từ một đồn Thuỷ dưới thời Lê. Về tên gọi “Vinh” nguyên do là do con sông Vĩnh Giang (sông Vinh ngày nay) chảy cạnh thành phố, tiếng Latinh không dùng dấu thanh điệu nên “Vĩnh” hay “Vịnh” được biến thành “Vinh”.

– Triều đình Nhà Nguyễn thối nát đầu hàng thực dân Pháp, ngày 20 tháng 7 năm 1885, Sa – mông (Chaumout) đổ bộ 188 lính Pháp lên Bến Thuỷ hợp lực với Mi – nhô (Mignot) từ Hà Nội vào và Bec-tơ-nô (Bretnaut) từ Hà Tĩnh ra chiếm Vinh – Bến Thuỷ rồi mở rộng ra cả Nghệ – Tĩnh. Các nhà doanh nghiệp đã dựa vào lưỡi lê và họng súng đặt tại Bến Thuỷ cơ sở đầu tiên của nền thương mại tư bản: Cửa hàng thu mua gỗ; dựng ở Bến Thuỷ, Trường Thi những cơ sở sản xuất công nghiệp: nhà máy diêm, nhà máy chế biến gỗ, nhà máy điện, nhà máy xe lửa, cảng sông… Các nhà máy, cơ sở thương mại mọc lên ngày càng nhiều, Vinh – Bến Thuỷ trở thành một trung tâm công nghiệp lớn của Bắc Miền Trung.

– Đồng thời với việc mở mang khu công nghiệp, kinh doanh, thương mại là chính sách khai thác vơ vét thuộc địa và sự cai trị hà khắc. Những người lao động làm thuê bị bóc lột nặng nề. Họ đã sát cánh bên nhau vùng lên tranh đấu. Lúc này một số thanh niên tân học yêu nước, một số cựu chính trị phạm từ Côn Đảo về đã họp tại núi Con Mèo tuyên bố thành lập Hội Phục Việt (sau này đổi tên là Đảng Tân Việt). Đây là tổ chức cách mạng ra đời sớm nhất ở Việt Nam. Hội Phục Việt đã gây được ảnh hưởng trong công nhân, học sinh, dân nghèo thành thị và một số vùng nông thôn lân cận.

– Mùa hè năm 1929, những phần tử tích cực trong Hội Thanh niên tách khỏi cơ quan Tổng bộ của họ ở Quảng Châu (Trung Quốc) về nước phát tuyên ngôn lập ra Đông Dương cộng sản đảng (17/6/1929). Tháng 9 năm 1929, Nguyễn Phong Sắc (tức Thịnh) uỷ viên Trung ương kiêm bí thư xứ uỷ Trung Kì lâm thời Đông Dương cộng sản Đảng vào Vinh cùng Trần Văn Cung (uỷ viên chấp hành xứ uỷ lâm thời) chỉ đạo phong trào ở Vinh – Bến Thuỷ, vận động thống nhất các tổ chức cộng sản vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 20 tháng 3 năm 1930, tại Vinh, xứ uỷ tổ chức họp bầu ra Ban chấp hành tỉnh bộ Nghệ An đồng thời cũng bầu ra ban chấp hành Tỉnh bộ Đảng cộng sản Việt Nam thành phố Vinh – Bến Thuỷ, thực chất Tỉnh bộ này là Thành uỷ Vinh – Bến Thuỷ. Tỉnh bộ Vinh đã chỉ đạo phát triển được nhiều chi bộ Đảng ở các nhà máy, phường, xã lân cận, lãnh đạo công nhân đi từ đấu tranh tự phát lên đấu tranh tự giác mà đỉnh cao là cao trào Xô Viết Nghệ – Tĩnh 1930 – 1931, gắn với cuộc biểu tình 01/05/1930 lịch sử. Cùng với các chi bộ Đảng, các tổ chức mang biệt danh “Đỏ”: Công Hội đỏ, nông hội đỏ, xích vệ đỏ, rồi làng đỏ (Yên Dũng). Thành phố Vinh mãi mãi rạng danh với tên gọi Thành phố Đỏ huy hoàng.

 Cuộc biểu tình 1-5 bị dìm trong bể máu, phong trào Xô Viết tạm lắng xuống, nhưng ngọn lửa quật khởi của nó thì mãi mãi cháy sáng trong lòng người dân Thành phố Đỏ, họ hăng hái tập hợp quanh lá cờ Đảng, Mặt trận Việt Minh vùng lên khởi nghĩa cướp chính quyền ngày 21 tháng 8 năm 1945, rồi hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch ngày 7 tháng 2 năm 1947, tiêu thổ để kháng chiến và góp phần to lớn vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ sau này.

Nhà thờ họ Uông

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Nhà thờ họ Uông.

2. Địa chỉ.

 Nằm về phía đông bắc thành phố: thuộc xã Hưng Lộc- Vinh.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

 Di tích Nhà thờ họ Uông nằm trên khu đất rộng, xung quanh cây cối um tùm, rậm rạp. Đây là địa thế thuận lợi để đảm bảo cho việc hoạt động của xứ ủy Trung Kỳ, tỉnh ủy Vinh- Bến Thủy, nhất là bảo toàn lực lượng và tài liệu của Đảng.

 Nhà thờ họ Uông được xây dựng năm Mậu Dần cách ngày nay trên 120 năm, thờ phụng tổ tiên dọng họ Uông, những người có công với nước. Trước đây nhà thờ có 3 gian nhà tranh. Đến năm  1994 nhà thờ được xây cất lại, lợp ngói tây đỏ hiệu Hưng Kỳ. Vẫn 3 gian nhà đó dài 6m, rộng 4,5m với diện tích là 30m2 chất liệu bằng gỗ lim, gỗ sú, gỗ săng lẻ, cấu trúc theo kiểu tự trụ là: tiền hạ, hậu trụ để cho tiện việc thờ cúng. Xung quanh nhà thờ thưng bằng ván gỗ, trên các cầu dao nhà thờ có 8 góc 8 con rồng chầu lại. Ở giữa nóc nhà có đầu con hổ phù và mặt nguyệt.

 Năm 1982, bị cơn bão số 7 làm vỡ 1 số ngói và các con rồng tiên bị hỏng nên được con cháu trong dòng họ tu sửa lại nhà thờ. Nhà thờ gồm có 12 cột nguyên cao và 4 cột bông ngắn. Ngoài hành lang, nhà thờ có 4 cột gỗ để nâng mái trước lên.Trong 3 gian nhà thờ: gian giữa thờ ông Thí Tổ Uông Trọng Công (đại tướng đô đốc đời Lê), gian bên phải thờ ông Uông Mạnh Chướng (trước đây là thượng thư bộ lại); gian bên trái thờ con cháu dòng họ Uông đời sau.

 Di tích nhà họ Uông hiện nay đang còn những đồ vật thờ tự như: 5 cái ngai(sơn son thiếp vàng) để thờ gian giữa 3 cái, 2 gian hai bên là hai cái. Một số mâm chè và sáp thờ, một số bát hương ở gian giữa còn 3 cái mũ văn, võ làm bằng vải nỉ, và có có 4 cái gươm. Cứ mỗi gian có 3 cái lư hương bằng sứ. Năm 1944 khi con cháu sửa sang, quét dọn trong nhà thờ có phát hiện một bộ tài liệu và truyền đơn của Đảng trong thời kì 1930- 1931để trong cái khảm”sơn son thiếp vàng”ở gian giữa nhà thờ. Đến nay tài liệu và truyền đơn đó không còn nữa. Đến năm 1960, Bảo tang cách mạng Việt Nam đã về khảo sát, đo đạc nhà thờ rồi đem về Hà Nội trưng bày phục vụ quần chúng nhân dân cả nước.

 Nhà thờ họ Uông đến nay vẫn còn nguyên vẹn.

4.Xếp hạng di tích, danh thắng.

– Nhà thờ họ Uông đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia năm 1992 theo quyết định số /QĐ ngày 11/03/1992.

Rừng ngập mặn Hưng Hòa

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Rừng ngập mặn Hưng Hòa.

2. Địa chỉ.

– Cách thành phố Vinh khoảng 8km về phía Đông Bắc, thuộc địa phận xã Hưng Hòa, thành phố Vinh.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Khu rừng ngập mặn này được dân địa phương gọi là rừng bần. Rừng  rộng hơn 70ha, trải dài đến 4km, phía ngoài tiếp giáp sông Lam, phía trong giáp đê 42.

– Rừng bần còn có tên gọi là tràm chim vì động vật ở đây chủ yếu là các loại chim như: cò, vạc, chèo bẻo, chim sâu, cu gáy…Có thể nói rừng Bần Hưng Hòa là mô phỏng sân chim miệt vườn Cà Mau vì ở đây gần như có đủ các loài chim mà đất rừng Phương Nam vốn có. Nhóm chim ở rừng bần Hưng Hòa có tính đa dạng sinh học cao nhất, với 31 loài, 19 họ và 12 bộ chim. Đặc biệt là có 3 loài chim quý hiếm được ghi trong Sách đỏ, đó là Bồ nông chân dài, Bói cá lớn, Quạ khoang và 13 loài chim trú đông, 2 loài chim di cư… Mà đâu chỉ có các loài chim chọn Rừng bần làm nơi trú ngụ, kiểm chứng của các nhà khoa học cho hay, ở rừng bần Hưng Hòa còn có 63 loài động vật xương sống sinh sống. Ngoài ra, còn có 3 loài thú, 10 loài bò sát, 5 loài ếch nhái và 14 loài cá, trong đó có loài cá Sú vàng rất có giá trị về kinh tế và y học thực nghiệm. Loài động vật không xương sống ở rừng bần Hưng Hòa cũng rất đa dạng phong phú, theo số liệu thống kê chưa đầy đủ tại đây đã có tới 150 loài, trong số này có những loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ như Vẹm xanh, Bọ ngựa; loài có giá trị kinh tế và thẩm mỹ như Rươi, Bướm Phượng..v.v…

– Cây bần chủ yếu là nguyên sinh, chiếm tỷ lệ khoảng 85% diện tích rừng, những cây còn lại là sú, vẹt, cây dây leo… Cây bần ra hoa và kết quả vào tháng 7, 8 và kéo dài đến tháng 12 dương lịch, rụng lá vào tháng 2 và đến cuối tháng 4 dương lịch mới đâm chồi, nảy lộc, vì thế quanh năm rừng bần là điểm du lịch sinh thái, giải trí lý tưởng. Đến thăm rừng bần vào mùa lá rụng, du khách có thể nhìn thấy cả khoảng rừng bao la với hàng vạn con chim đậu trên những cây bần. Vào mùa ra hoa kết trái, du khách sẽ được thưởng thức vẻ đẹp tự nhiên của hoa bần và quả bần chín, ngắm những đàn chim ẩn mình trong cành lá, khi có tiếng động là cất cánh bay. Ngoài ra, hoa bần có nhiều phấn thích hợp cho việc nuôi ong, mang lại nguồn kinh tế cao.

– Sự tồn tại của rừng Bần – tràm chim còn giúp cho môi trường sinh thái ổn định, làm hàng rào chắn sóng bảo vệ đê điều và cuộc sống của cư dân nơi đây. Rừng bần dần trở thành một điểm du lịch sinh thái mới đang thu hút ngày càng nhiều du khách tới thăm. Các công ty lữ hành trong tỉnh hiện đang xây dựng tour du lịch tham quan khám phá rừng ngập mặn với nhiều hoạt động du lịch như bơi thuyền trên sông, câu cá, cắm trại… và thưởng thức các đặc sản địa phương. Rừng ngập mặn Hưng Hòa kết hợp với các điểm du lịch khác như núi Quyết – Bến Thủy – Công viên Trung tâm Khu vui chơi giải trí hồ Cửa Nam – Công viên Thành cổ – Công viên Nguyễn Tất Thành, sẽ tạo nên một tour du lịch đầy hấp dẫn và bổ ích. Không chỉ có thế, từ bến thuyền Hưng hòa, ngược nguồn dòng Lam du khách sẽ với Đến Hường Mười, Khu di tích cố tồng bí thư Lê Hồng Phong của vùng quê Hưng Nguyên, đến với Đình Trung Cần và Hoành Sơn, Khu di tích Kim Liên, lăng và mộ Mai Hắc Đế, Khu di tích danh nhân Phan Bội Châu…Từ trung tâm của xã Hưng Hòa, xuống bến thuyền sang bên kia sông, du khách sẽ đến với quê hương của Đại thi hào Nguyễn Du, danh nhân Nguyễn Công Trứ và sẽ được đắm chìm trong giai điệu mượt mà của ca trù Cổ đạm…

– Để khai thác tiềm năng lý tưởng vô giá mà thiên nhiên ban tặng con người, thành phố Vinh đã xây dựng dự án quản lý, bảo vệ trồng mới mở rộng diện tích gắn với qui hoạch du lịch sinh thái phía hạ lưu sông Lam, từ Lâm viên núi Dũng Quyết đến triền đê bao quanh rừng bần Hưng Hòa với tổng mức đầu tư hàng tỷ đồng. Hiện nay thành phố đã và đang triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng, đường bao quanh sông Lam, trồng mới một số diện tích bị phá hại. Bởi ngoài giá trị du lịch sinh thái, rừng bần Hưng Hòa còn là vành đai xanh an toàn bao bọc chân đê chống xói mòn và ngập úng, bảo đảm an toàn cho dân cư.

Núi Dũng Quyết và Phượng Hoàng Trung Đô

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Núi Dũng Quyết và Phượng Hoàng Trung Đô.

2. Địa chỉ.

– Phường Bến Thủy, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Suốt chiều dài phát triển của dân tộc, nhiều biến cố lịch sử trọng đại đã để lại những dấu ấn lịch sử đậm nét, giàu chất sử thi, tạo nên một địa điểm văn hóa du lịch hấp dẫn, thú vị. Núi Dũng Quyết và Phượng Hoàng Trung Đô thời vua Quang Trung ở vùng Bến Thủy, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An là một địa điểm như vậy.

– Đáng để cho nhân dân Xứ Nghệ tự hào về lịch sử kỳ thú trên mảnh đất này. Núi Dũng Quyết có 4 chi: Long Thủ (đầu Rồng), Phượng Dực (cánh Phượng), Kỳ Lân (con Mèo) và Quy Bối (con Rùa). Người xưa gọi địa thế nơi đây là đất tứ linh, bởi có đủ Long, Ly, Quy, Phượng. Đỉnh cao nhất cao 101,50m, đỉnh thấp nhất 53,50m. Sông Vĩnh (Cồn Mộc) bắt nguồn từ dãy núi Đại Huệ, có mười hai khúc quanh co, lững lờ chảy dưới chân núi Kỳ Lân, rồi đổ ra sông Lam nơi ngã ba Hạc. Dòng sông Lam như một con Thanh Long (Rồng Xanh) khổng lồ, chảy từ thượng ngàn về đây uốn mình vòng quanh phía đông nam chân núi Dũng Quyết, tạo nên một khu vực thiên nhiên có phong cảnh đẹp độc đáo được nhân hóa qua quá trình cần cù, gian khổ, đầy sáng tạo và chiến đấu dũng cảm, kiên cường, chịu hy sinh của nhân dân bao đời và đã tạo nên một vùng di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu, phong phú về nội dung, đa dạng thể loại, đậm đà về bản sắc. Núi Dũng Quyết từ buổi đầu dựng nước và giữ nước đã là vị trí yết hầu trên con đường thiên lý xuyên Việt, trở thành một căn cứ quân sự trọng yếu. Từ đây con người có thể vào Nam, ra Bắc, lên ngàn xuống biển, tiến, lùi đối với các hướng đều thuận tiện. Thế núi Hồng Lĩnh, núi Dũng Quyết, sông Lam, sông Cồn Mộc tạo nên những bức tường thành thiên nhiên phòng thủ kiên cố. Xứ Nghệ là chiến trường nóng bỏng suốt 200 năm Trịnh, Nguyễn phân tranh, liên tiếp xảy ra cảnh “nồi da nấu thịt”, cho nên người dân ở đây vô cùng căm ghét cả tập đoàn phong kiến Lê Trịnh ở Đàng Ngoài lẫn tập đoàn phong kiến chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Nguyễn Huệ Quang Trung nhìn thấy rõ thế chiến lược của vùng đất Dũng Quyết và lòng người Xứ Nghệ. Ngày 3 tháng 9 năm Thái Đức thứ 11 (01/10/1788) Nguyễn Huệ Quang Trung đã hạ chiếu: “Nay kinh đô Phú Xuân thì hình thế trắc trở, nay trị Bắc Hà sự thế rất khó khăn. Theo đình thần nghĩ rằng: Chỉ đóng đô ở Nghệ An là độ đường vừa cân, vừa có thể khống chế được trong Nam ngoài Bắc và sẽ làm cho người tứ phương đến kêu kiện tiện việc đi về…

“Nhớ lại buổi hồi loạn kỳ trước, lúc qua Hoành Sơn. Quả cung đã từng mở xem địa đồ. Thấy ở huyện Chân Lộc, xã Yên Trường, hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng. Có thể chọn để xây dựng kinh đô mới, thực là chỗ rất đẹp để đóng đô vậy…” Vùng đất có hình thể rộng rãi, khí tượng tươi sáng ở xã Yên Trường, huyện Chân Lộc là vùng đất nằm giữa núi Dũng Quyết và núi Kỳ Lân, nay thuộc khối 3, phường Trung Đô, thành phố Vinh. Nguyễn Huệ Quang Trung đã giao cho Trấn Thủ Thuận và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp tổ chức xây dựng thành Phượng Hoàng Trung Đô. Thành ngòai của Phượng Hoàng Trung Đô xây bằng đất, đá ong, hình tứ giác, chu vi khoảng 2.820m, bờ thành cao từ 3m đến 4m, diện tích rộng 22ha. Bao quanh phía ngoài thành có con hào rộng khoảng 30cm, sâu từ 2,5m đến 3m. Thành nội xây bằng gạch vồ và đá ong, chu vi 1.680m cao 2m. Trong thành nội có tòa lầu rộng 3 tầng, phía trước có bậc tam cấp bằng đá ong, phía sau có 2 dãy hành lang nối liền với điện Thái Hòa là nơi dùng cho việc thiết triều của vua Quang Trung. Chỉ hơn một năm sau ngày 5 tháng 10 năm Kỷ Dậu (tức ngày 21/11/1789) trong tờ chiếu gửi La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, một lần nữa Nguyễn Huệ Quang Trung khẳng định việc xây dựng bằng được Phượng Hoàng Trung Đô để đóng đô ở Nghệ An.” “Trẫm ba lần xa giá Bắc Thành. Tiên sinh đã chịu ra bàn chuyện thiên hạ. Người xưa bảo rằng “một lời nói mà dấy nổi cơ đồ”. Tiên sinh hẳn có thế, chứ không phải là hạng người chỉ bo bo làm việc gần mình mà thôi… “Trẫm nay đóng đô ở Nghệ An, cùng tiên sinh gần gũi. Rồi đây tiên sinh hay ra giúp nhau để trị nước”. Theo tư liệu trong các thư tịch còn giữ được thì vua Quang Trung đã làm việc ở Phượng Hoàng Trung Đô ít nhất hai lần. Lần thứ nhất: Tháng 5 năm 1791, vua Quang Trung từ đây kéo quân lên vùng thượng du Nghệ An, vượt sang Lào đánh các lực lượng phản động đang có âm mưu cấu kết với bè lũ Lê Duy Chỉ chống lại triều Tây Sơn. Lần thứ hai: Tháng 1 năm 1792 trên đường đánh giặc từ thượng du Nghệ An về, vua Quang Trung đã dừng chân ở đây. Rất tiếc rằng, vua Quang Trung qua đời đột ngột vào ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (1792) nên chưa kịp dời đô từ Phú Xuân ra Phượng Hoàng Trung Đô. Phượng Hoàng Trung Đô là chứng tích hào hùng thể hiện tầm nhìn văn hóa của Nguyễn Huệ Quang Trung trong quá trình đấu tranh thống nhất đất nước, xây dựng cuộc sống thái bình, ấm no cho dân tộc Việt Nam. Đứng trên đỉnh núi Dũng Quyết vào những buổi sáng trời trong xanh, khi mặt trời vừa nhô lên khỏi biển, hoặc những buổi chiều tà, vừng dương sắp gác núi, thấy phong cảnh một miền non nước của Xứ Nghệ cực kỳ ngoạn mục, bởi cảnh thiên nhiên ấy chứa đựng đầy ắp chất sử thi do con người tạo ra qua quá trình lao động chiến đấu.

4.Xếp hạng di tích, danh thắng.

– Núi Dũng Quyết và khu vực Phượng Hoàng Trung Đô đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá năm 1964 theo quyết định số 313/QĐ-VH ngày 28/04/1964.

Thành Cổ Vinh

1.Tên điểm di tích, danh thắng.

– Thành cổ Vinh.

2. Địa chỉ.

 Phường Cửa Nam, tp Vinh, NA

3.Mô tả điểm di tích, danh thắng.

– Sử sách ghi rằng, chiếm được Phú Xuân (năm 1802), Nguyễn Vương (1762-1820) lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long. Sau khi lên ngôi vị vua này đưa quân tiến ra đất Bắc. Ðến tháng 6 cùng năm, vua Gia Long thống nhất được sơn hà, chấm dứt cuộc chiến tranh kéo dài gần 300 năm. Đến năm 1803, Gia Long ra Bắc, chọn làng Vĩnh Yên (Khu vực Thành cổ bây giờ) nằm phía Tây Bắc núi Dũng Quyết (P.Trung Đô, TP Vinh ngày nay) để xây thành Nghệ An bằng đất. Khi vua Gia Long băng hà, Nguyễn Phúc Đảm (con thứ 4 của vua Gia Long) lên ngôi lấy hiệu là Minh Mạng (1791-1840) mới cho xây lại thành Nghệ An bằng đá ong theo kiểu Vô-băng vào năm 1831(Vauban là tên một tướng Pháp có sáng kiến thiết kế kiểu thành này).

Khi “phục dựng” lại Thành, vua Minh Mạng đã huy động tổng lực nhiều sức dân và sức của. Sách ghi: Thành có 6 cạnh, chu vi dài 603 trượng (2.412m), cao 1 trượng, 1 tấc, 5 thước (4,42m), diện tích 420 nghìn m2; bao quanh Thành là hệ thống hào (gọi là Hồ Thành) rộng 7 trượng (28m), sâu 8 thước ta (3,2m). Ngay từ lúc khởi công, Triều đình nhà Nguyễn đã huy động 1.000 lính Thanh Hoá, 4.000 lính Nghệ An. Đến thời vua Tự Đức (1829-1883), để tiếp tục nâng cấp triều đình đã phải sử dụng 8.599 phiến đá sò từ Diễn Châu (cách Vinh gần 50 cây số) và đá ong từ Nam Đàn, 4.848 cân vôi, 155 cân mật mía. Tổng kinh phí hoàn thành là 3.688 quan tiền – một số tiền khổng lồ lúc bấy giờ.

Thành cổ có 3 cửa ra vào, cửa tiền là cửa chính hướng về phía Nam, cửa để Vua ngự giá, các quan trong lục bộ triều đình và Tổng đốc ra vào. Cửa Tả hướng về phía Đông, cửa hữu hướng về phía Tây, muốn đi qua các cửa đều phải qua một cái cầu. Bên trong, công trình lớn nhất là hành cung, phía Đông Hành cung có dinh Thống Đốc, phía Nam có dinh Bố Chánh và án Sát, dinh lãnh binh, dinh đốc học, phía Bắc có trại lính và nhà ngục. Sau này phía Tây có nhà giám binh người Pháp. Toàn bộ được trang bị 65 khẩu thần công, 47 khẩu đặt ở các vọng gác, số còn lại tập trung ở hành cung và dinh thống đốc.

– Trải qua nhiều biến cố của lịch sử và sự phá hoại của chiến tranh, di tích Thành cổ hầu như không còn lại gì, chỉ còn lại 3 cổng thành và khu hồ bao quanh. Hiện nay Thành Cổ Vinh đã trùng tu lại được 2/3 cổng thành, đồng thời quy hoạch khôi phục lại di tích và đang có dự án cải tạo thành một công viên văn hoá lớn của Thành phố gọi tên là Công viên Thành cổ Vinh với quần thể các loại hình dịch vụ, vui chơi giải trí, du lịch văn hoá đa dạng, phong phú.

4.Xếp hạng di tích, danh thắng.

– Thành Cổ Vinh đã được xếp hạng di tích lịch sử năm 1998 theo quyết định số 95/QĐ-BVH ngày 24/01/1998 của Bộ Văn hóa.

Tượng đài Bác Hồ và Quảng trường Hồ Chí Minh

1.Tên điểm tham quan.

– Tượng đài Bác Hồ và Quảng trường Hồ Chí Minh.

2. Địa chỉ.

– Công trình tượng đài Bác Hồ và Quảng trường Hồ Chí Minh nằm trên địa bàn phường Trường Thi, Bắc giáp đường Hồ Tùng Mậu, Đông giáp đường Trường Thi, Nam giáp đường Trần Phú (QL IA).

3.Mô tả điểm tham quan.

– Quảng trường Hồ Chí Minh là một công trình văn hóa có tầm cỡ quốc gia, một tác phẩm có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, thể hiện tấm lòng kính yêu của nhân dân tỉnh Nghệ An và nhân dân cả nước đối với vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Công trình này được khởi công xây dựng vào năm 2000- đúng dịp kỷ niệm 110 năm ngày sinh của Bác và khánh thành vào 19/5/2003 đúng dịp kỷ niệm 113 năm ngày sinh nhật Bác.

– Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được mô phỏng từ hình ảnh Bác Hồ về thăm quê.Mặt tượng ngoảnh mặt về hướng Đông Bắc, thuận theo hướng ánh sáng tự nhiên, tôn thêm vẻ uy nghi hoành tráng khắc họa rõ hình dáng Bác: bước đi, vẻ mặt, ánh nhìn… chiều cao của tượng là 12m đặt trên đế. Bệ và khán đài có chiều cao 6m. Tượng có khối lượng trên 200 tấn được làm bằng đá hoa cương đồng màu, đồng chất khai thác ở tỉnh Bình Định. Bệ tượng làm bằng bê tông cốt thép, ốp đá hoa cương. Phía trước và xung quanh Tượng đài lát loại đá có kích thước 400 x 400 x 60mm, bố trí hoa văn thể hiện trang trọng, nghiêm túc. Các khu vực khác lát đá có hoa văn hình hoa thị tạo nên sự ấm áp. Phần Lễ đài ốp đá granite Bình Định. Sân hành lễ trồng cỏ lá tre, đường phân lô lát gạch granite. Đường diễu hành rộng 24,6m, rải bê tông nhựa nóng. Quảng trường còn có đài phun nước nhạc màu hiện đại nằm trong hồ hình bán nguyệt. Phía sau Tượng Bác là hình ảnh Núi Chung mô phỏng toạ trên diện tích 4 ha. Khối lượng đào đắp phủ đất là 167.600m3. Núi được tạo dáng hình chữ “Vương”. Đỉnh cao nhất 11m, đỉnh thấp 9m và có đường lên núi tham quan thuận tiện. Mặt trước núi có trồng cây xanh tạo phông cho tượng, hai bên trồng các giống cây từ 61 tỉnh thành gửi về. Phía sau núi tạo rừng nguyên sinh phục vụ hoạt động vui chơi nghỉ ngơi cho du khách đến thăm công viên.

.- Nơi đặt tượng đài Bác là quảng trường rộng gần 11 ha, tên gọi là Quảng trường Hồ Chí Minh, với nhiều hạng mục như: lễ đài, cột cờ, đường diễu hành, sân hành lễ, hệ thống điện chiếu sáng, cây xanh, hệ thống đài phun nước tạo cảnh, núi Chung mô phỏng theo núi Chung ở Làng Sen quê Bác vừa tạo khung cảnh hoành tráng của Quảng trường, vừa thể hiện sự gần gũi của Bác Hồ đối với quê hương. Trên 1.650 loài cây tiêu biểu của mọi miền Tổ quốc đã được đem về trồng, trên đỉnh có vườn cây lưu niệm của các đ/c lãnh đạo Đảng, Nhà nước và bạn bè quốc tế trồng trong những dịp đến thăm.

– Đến Thành phố Vinh, thành phố đỏ anh hùng trong những ngày tháng Năm lịch sử, vào thăm Quảng trường Hồ Chí Minh, du khách như được trải lòng vào một không gian mênh mông, cảnh sắc tươi đẹp, rực rỡ cờ, hoa và không khỏi bùi ngùi, xúc động khi được nghiêng mình trước Tượng đài Bác Hồ, xao xuyến con tim khi được nghe câu hát “Nghĩ về Bác, lòng ta trong sáng hơn, đứng nơi đây mà rộng mở tâm hồn” và như còn nghe ấm áp đâu đây lời nói của Người khi về thăm quê “Người ta đi lâu ngày về thăm quê thì mừng mừng, tủi tủi, còn tôi thì chỉ thấy mừng mừng… Quê hương nghĩa trọng tình cao/ Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”.

– Tượng đài Bác Hồ và Quảng trường Hồ Chí Minh đã trở thành một điểm văn hóa quan trọng thu hút ngày càng đông nhân dân thành phố, du khách trong tỉnh, trong nước và thế giới quây quần bên Người thăm quan, vui chơi, tổ chức lễ hội…

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*